Một thực tế không ai có thể phủ nhận đó là giới trí thức Tây Phương đang…tìm đến với Phật Giáo ! Điều này đã được ký giả người Ý, Vittorio Messori nêu lên trong cuộc phỏng vấn với đức giáo hoàng Gioan Phao Lô II năm 1994: “ Như đức thánh cha đã biết, hình như giáo lý giải thoát của Phật Giáo đang lôi cuốn một số lớn người Tây Phương như để thay thế cho Ky Tô Giáo hay như một thứ bổ túc ít ra là về những gì liên quan đến kỹ thuật tu đức và huyền bí” ( Bước Vào Hy Vọng – Câu hỏi số 14 ).
Với câu hỏi được đưa ra như thế cho thấy có hai điểm cần lưu ý. Một là giới trí thức Tây Phương hiện nay sẵn lòng thay thế Ky Tô Giáo bằng Phật Giáo vì cho rằng chỉ ở đó mới có giáo lý giải thoát. Hai là với những người không muốn rời bỏ Ky Tô Giáo nhưng cho rằng cần phải “bổ túc” bằng một kỹ thuật tu đức mang tính thần bí và kỹ thuật ấy phải chăng chính là Thiền Tông Đại Thừa ?
Thiền Tông du nhập vào Trung Hoa khởi đầu với lời tuyên bố dõng dạc của tổ Bồ Đề Đạt Ma: “ Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến Tánh thành Phật” Chủ trương bất lập văn tự không có nghĩa là phế bỏ kinh sách nhưng chỉ coi Kinh Sách như một thứ phương tiện giúp cho con người bước đầu khai ngộ và khai ngộ ở đây chính là nhận biết được Bản Tâm, Bản Tánh mình. Cái bước đầu khai ngộ ấy đối với Thiền Tông là hết sức quan hệ. Cũng bởi tính chất quan hệ ấy, ngũ tổ Hoàng Nhẫn nói với Huệ Năng sau này là tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Hoa: “ Bất thức bổn tâm, học đạo vô ích”.
Trên đường Hành Thiền, biết được Bản Tâm là điều rất ư quan hệ. Thế nhưng chỉ Biết thôi thì chưa đủ. Để rõ được điều này xin đưa ra ví dụ giống như người đi tìm vàng nhưng vàng này lại lẫn trong quặng. Nếu chỉ biết…có vàng thế thôi mà không khai quật để lấy nó ra thì nào ích lợi gì đâu ? Nếu chấp vào cái biết ấy như một thứ kiến thức, Nhà Thiền gọi đích danh nó là Sở Tri Chướng, một thứ chướng ngại cản trở cho việc giải thoát.
Trí thức Tây Phương cho rằng cần “ Bổ Túc” cho Ky Tô Giáo một kỹ thuật Tu Đức cho đó là Thiền nhưng thực ra họ vẫn chưa có sự hiểu biết về Thiền chứ đừng nói chi đến thực hành để mang lại lợi ích cho phần tâm linh:
“ Những người Tây Phương nhiệt thành nghiên cứu Thiền thường thấy rằng sau khi cái quyến rũ ban đầu đã mòn mỏi. Những bước tiếp tục cần thiết để theo đuổi nó một cách đứng đắn trở thành chán nản và vô hiệu quả. Cái kinh nghiệm “ Ngộ” thì tuyệt diệu thật nhưng vấn đề chủ yếu là làm thế nào để thể nhập vào kinh nghiệm ấy ? Vấn đề nắm bắt “ Nàng Phù Thủy Thiền” khiêu khích này đối với đa số những người hâm mộ Thiền ở Tây Phương vẫn chưa được giải quyết…
….Ấy bởi vì việc nghiên cứu Thiền ở Tây Phương vẫn còn trong giai đoạn vỡ lòng và các người học vẫn còn luẩn quẩn trong cái vùng mơ hồ giữa việc “ quan tâm đến và hiểu” Thiền. Đa số họ chưa đạt đến mức chín chắn trong việc nghiên cứu để họ có thể thực sự tu tập Thiền, chứng đắc Thiền và biến Thiền thành cái sở hữu thâm sâu nhất của họ” ( Thiền sư Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập ).
Thiền không bao giờ là đối tượng của sự hiểu biết bởi vì mục đích sâu xa của nó là đạt tới sự chứng ngộ. Tuy nhiên sự chứng ngộ của Thiền trong thời mạt pháp này là điều bất khả, lý do là vì Thiền Tông là một pháp môn hoàn toàn dựa vào tự lực. Tại sao tu tự lực như thế lại bất khả cho việc giải thoát ? Đó là vì nó cần phải đoạn được cả Kiến Hoặc cũng như Tư Hoặc. Đoạn Kiến Hoặc khó như ngăn một dòng sông rộng 40 dặm, còn đoạn Tư Hoặc lại muôn vàn lần khó hơn. Như vậy, việc giải thoát sinh tử có phải là việc dễ dàng đâu ? ( HT Thích Trí Tịnh – Thiền Tịnh Quyết Nghi ).
Việc Tu Thiền bằng tự lực như thế là điều bất khả dù cho ngay cả với những bậc đã đại triệt, đại ngộ. Tại sao thế ? Bởi vì việc giải thoát ấy cần phải thành tựu ngay trong kiếp sống này còn qua kiếp sau biết có còn mang thân người để tiếp tục TU hay không ?
Chính bởi cái khó tột cùng ấy, nên tổ Vĩnh Minh mới đề ra bốn câu kệ ( Tứ Liệu Giản ) Trong đó Liệu Giản thứ ba, ngài nói:
“Có Thiền mà không Tịnh Độ
Mười người hết chín người chần chờ
Đến lúc ấm cảnh hiện tiền
Chớp mắt theo nó mà đi”
Sống ở đời, ai ai cũng phải đến lúc phải nhắm mắt xuôi tay và khi ấy dù chỉ một tạp niệm khởi lên cũng bị nó dẫn vào con đường bất định: “ Biển sanh tử rộng sâu, đường Bồ Đề xa vời, chưa kịp quy gia mà tử thần đã đến. Mười người đại ngộ thì có chín người như thế, có nghĩa còn chần chờ chưa biết đi về đâu ? ( HT Thích Trí Tịnh – Thiền Tịnh Quyết Nghi ).
Chưa kịp quy gia mà tử thần đã đến tức chưa kịp…Về Nhà thì đã chết ! Về Nhà ở đây theo nghĩa của Đạo Công Giáo chính là Về Nhà Cha. Toàn bộ mục đích sống đạo của người Công Giáo đó chẳng phải là để sau khi chết được Chúa Ki Tô đón về Nhà Cha như lời Ngài đã hứa hay sao ?:
“ Lòng các ngươi chớ bối rối, đã tin Thiên Chúa thì cũng hãy tin Ta nữa. Trong Nhà Cha Ta có nhiều chỗ. Bằng chẳng có như vậy thì Ta đã nói cho các ngươi rồi, Ta đi để sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đi mà sắm sẵn cho các người một chỗ rồi thì Ta sẽ trở lại, tiếp các ngươi về với Ta hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi sẽ ở đó với Ta” ( Ga 14, 1 -3 ).
Chúa Giê Su Ky Tô đã phục sinh về với Cha tức vế Cõi Sống Đời Đời Bất Diệt là Nước Thiên Đàng. Người Công Giáo chúng ta tin vào lời hứa ấy, thế nhưng chỉ tin thôi chưa đủ mà còn phải sống niềm tin ấy có nghĩa cần gặp gỡ Chúa Ky Tô ngay trong cuộc đời mình.
Gặp gỡ Chúa Ky Tô hay nói theo ngôn ngữ Thiền đó chính là “ Ngộ” . Như vậy, gặp gỡ Chúa Ky Tô đó phải là lẽ sống của người Công Giáo và chính sự gặp gỡ ấy sẽ cho chúng ta gặp được Chúa Cha cũng là Chân Tâm, Bản Tính mình: “ Chúa Giê Su nói với Philip khi tông đồ này thưa với Ngài: “ Xin chỉ Cha cho chúng tôi thì đủ rồi. Chúa phán: Philip ơi, Ta ở cùng các ngươi lâu dường này mà ngươi há chưa biết Ta sao ? Ai đã thấy Ta tức là thấy Cha. Sao ngươi lại nói xin chỉ Cha cho chúng tôi ? Ngươi há không tin rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta hay sao ? Lời Ta nói với các ngươi chẳng phải tự Ta nói đâu, bèn là Cha ở trong Ta làm việc của Ngài” ( Ga 14, 8 -10 ).
Chúa nói: Ai thấy Ta là thấy Cha và…thấy ở đây dĩ nhiên không phài bằng con mắt xác thịt nhưng chính là NGỘ, là gặp Ngài như chính là Ngài. Gặp Chúa Giê Su như chính Ngài đó là NGỘ và quả thật vào lúc Chúa Giê Su còn tại thế, các Tông Đồ chưa có vị nào thực sự gặp ( Ngộ ) Chúa Giê Su và cũng bởi vì…chưa gặp thế nên các ông vẫn lầm tưởng Ngài với Đấng Messia trong truyền thống Do Thái Giáo. Sự lầm lẫn ấy xảy ra ngay cả khi Chúa Giê Su đã sống lại. Có hai trường hợp điển hình về sự lầm lẫn ấy. Một là với hai môn đệ đang trên đường về Emmau.
Sau khi Chúa Giê Su bị kết án và chết treo trên thập tự giá thì các môn đệ tan tác mỗi người mỗi ngả. Khi hai môn đệ trên đường về Emmau, Chúa Giê Su Phục Sinh hiện ra cùng đi mà họ không biết thế nên đã nói: “ Nhưng chúng ta đã hy vọng chính Ngài sẽ chuộc dân Itsraen. Thế nhưng việc ấy ( Chúa bị giết ) đã xảy ra 03 ngày rồi ( Lc 24, 24 ).
“ Chuộc” ở đây có nghĩa là đánh đuổi quân La Mã xâm lược, đem lại độc lập, tự do cho Dân Do Thái ! Sự lầm tưởng ấy còn tái diễn khi các Tông Đồ nhóm lại trước khi Chúa thăng thiên, họ hỏi Ngài: “ Thưa Chúa, có phải đây là lúc Ngài khôi phục lại Nhà Itsraen hay không ?” ( Cv 1, 6 ).
Sự lầm lẫn chỉ chấm dứt sau Ngày Lễ Ngũ Tuần, được Chúa Thánh Thần soi sáng để bước vào một giai đoạn mới của công cuộc rao giảng Tin Mừng. Việc rao giảng ấy là theo lệnh truyền của Chúa Ky Tô Phục Sinh: “ Hãy ra đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Ai tin và chịu Phép Rửa thì được cứu. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt” ( Mc 16, 15 -16 ).
Lệnh truyền rất dứt khoát, ai tin và chịu Phép Rửa thì được cứu. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt. Sở dĩ lệnh truyền mang tính dứt khoát như thế là vì Tin Mừng của Đức Ky Tô là về Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại ( Lc 17, 20 -21 ). Chúa Giê Su đã đưa ra nhiều ví dụ về Nước Trời Mầu Nhiệm, chẳng hạn: “ Nước Trời ví như của báu chôn trong ruộng, có người tìm được thì yểm đi, vui mừng mà về bán hết gia sản mình mà mua lấy thửa ruộng ấy” ( Mt 13, 44 ).
Của Báu ám chỉ cho Nước Trời còn Ruộng là chỉ cho Tâm. Khi tìm được Của Báu chôn trong ruộng thì về bán hết gia sản mình mà mua lấy có nghĩa một khi đã NGỘ ra rằng Của Báu là Nước Trời từ muôn kiếp vẫn hiện hữu ở nơi mình mà mình không hề hay biết ! Giờ đây khi đã NGỘ ra thì vui mừng về bán hết gia sản tức bỏ đi những cái mà mình trước đây cho là giá trị như tiền bạc, danh vọng, chức quyền để bước theo Đức Ky Tô hầu trở về với Nước Trời Mầu Nhiệm còn ẩn giấu ở nơi Tâm mình.
Có một chứng nhân rất nổi tiếng về sự gặp gỡ ( NGỘ ) này là thánh Phao Lô trong biến cố Damas. Vị thánh nhân trước đây đã từng bách hại Đạo Thánh Chúa cách dữ dội nhưng đã được Ơn Chúa cho trở lại: “ Xảy khi đang trên đường gần tới Damas , thình lình có ánh sáng từ trời chiếu xuống khiến người, từ trên ngựa té xuống nghe tiếng phán: Sao Lơ, Sao Lơ, sao ngươi tìm bắt Ta ? Người nói rằng: Thưa Chúa, Chúa là ai ? Ta là Giê Su mà ngươi đang tìm bắt đây. Hãy chỗi dậy, vào thành sẽ có người tỏ cho ngươi mọi điều cần phải làm” ( Cv 9, 3 -6 ).
Thánh Phao Lô đã “ NGỘ” được Chúa Giê Su trong hoàn cảnh rất đặc biệt và được trao cho sứ mạng lớn lao. Với cuộc gặp gỡ ấy đã hoàn toàn biến đổi cuộc sống thánh Phao Lô và ngài đã hiến trọn cuộc đời để phụng sự Chúa Ky Tô: “ Tôi đã bị đóng đinh với Đức Ky Tô trên thập tự giá. Dẫu vậy, tôi sống nhưng không phải là tôi sống nữa bèn là Đức Ky Tô sống trong tôi. Nay tôi còn sống trong xác thịt đây ấy là tôi nhơn đức tin mà sống tức đức tin đến Con Thiên Chúa là Đấng đã thương yêu tôi và phó chính mình vì tôi” ( Gl 2, 20 ).
Thánh Phao Lô một khi đã… NGỘ được Đức Ky Tô thì đã không còn cái nhìn về Ngài như trước đây nữa. Có nhiều cái nhìn khác nhau về Chúa Giê Su khi chưa…gặp được Ngài. Với người Do Thái xưa kia thì Chúa Giê Su chỉ là con của bác thợ mộc Giu Se. Còn với Sao Lơ khi chưa trở lại thì Chúa Giê Su chỉ là một tên phản loạn ! Thế nhưng khi đã NGỘ được Ngài rồi thì cái nhìn ấy đã biến đổi hoàn toàn: “ Bởi đó cho nên từ nay chúng tôi không còn nhận biết ai theo xác thịt nữa. Dẫu rằng chúng tôi từng nhận biết Đức Ky Tô theo xác thịt. Song hiện nay chẳng còn nhận biết Ngài như vậy nữa. Vậy, nếu ai ở trong Đức Ky Tô thì nấy là người được dựng nên mới. Những sự cũ đã qua đi. Này mọi sự đều trở nên mới” ( 2C 5, 16 -17 ).
Mọi sự đều trở nên mới có nghĩa đã có sự thay đổi trong quan niệm về việc bố thí, về cầu nguyện về tình yêu thương v.v…” Vậy khi ngươi bố thí thì đừng thổi kèn trước mặt mình như kẻ giả hình. Cầu nguyện thì phải xoay cái Tâm vào bên trong nơi có Đấng Cha ngự trị mà cầu. Yêu thương thì phải yêu cả kẻ thù nghịch cùng mình…( Mt 6, …).
Lý do có sự thay đổi trong quan niệm cũng như hành động như thế là vì Con Đường mà Chúa Giê Su truyền dạy có mục đích để ta có thể Ngộ Nhập được với Đấng Cha trong chính mình. Sự Ngộ Nhập ấy có mục đích để cho ta Làm Hòa được với Thiên Chúa nhờ Đức Giê Su Ky Tô:
“ Mọi sự đều ra từ Thiên Chúa, Ngài đã nhờ Đức Ky Tô mà khiến chúng ta hòa lại với Ngài và Ngài trao cho chúng ta chức dịch giải hòa. Ấy là Thiên Chúa vốn ở trong Đức Ky Tô khiến cho thế gian hòa lại với Ngài chẳng kể cho sự lỗi phạm của họ và đã ủy thác Đạo Giải Hòa cho chúng tôi” ( 2C 5, 18 -19 ).
Nhờ Đức Ky Tô, chúng ta có thể… “hòa lại” với Thiên Chúa thì điều ấy có nghĩa trước đó đã có sự bất hòa và nguyên do đưa tới sự bất hòa ấy là vì Nguyên Tổ đã không vâng lời Thiên Chúa, nghe theo cám dỗ của Rắn Sa Tan cố tình…ăn trái mà Đức Chúa đã cấm: “ Rồi, Giehova ĐCT phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cậy trong vườn nhưng về cây biết điều thiện, điều ác thì chớ hề ăn đến. Vì một mai ngươi ăn, chắc là phải chết” ( St 2, 15 -17 ).
Như vậy, rõ ràng là Biết hay nói rõ hơn là Biết Phân Biệt điều thiện, điều ác chính là Tội Nguyên Tổ, không còn có cách hiểu nào khác. Thế nhưng, tại sao phân biệt điều thiện, điều ác lại là một thứ tội khiến cho phải chết, đó là điều cần làm sáng tỏ, nếu không sẽ không bao giờ có thể tiếp cận được với các chân lý Thánh Kinh ? Hay nói cách khác, chỉ khi nào trả lời thỏa đáng cho vấn nạn này thì Con Đường Giải Thoát của Đạo Chúa mới được khai thông mở lối !
Biết điều thiện, điều ác thì cái biết ấy thuộc về tư tưởng và Nhà Thiền gọi đích danh nó là Vọng Tưởng Phân Biệt. Khi vọng tưởng khởi thì lập tức mất đi Tâm Vô Phân Biệt cũng là Cái Tâm Bản Nhiên vốn hằng hữu ở nơi mỗi người, bậc thánh không tăng, kẻ phàm không giảm. Tâm Bản Nhiên ấy, Phật Giáo Đại Thừa có nhiều tên gọi khác nhau hoặc là Phật Tánh ( Giác Tánh ) Hoặc là Bản Lai Diện Mục ( Bộ Mặt Xưa Nay ) v.v…Còn Đức Ky Tô, tùy từng đối tượng, tùy trường hợp có khi Ngài gọi là Nước Trời, khi khác là Đấng Cha v.v…
Đối với Pháp Đốn Ngộ của Thiền Tông thì chủ trương Vô Niệm có nghĩa là không nghĩ ác mà cũng không nghĩ thiện, bởi vậy lục tổ Huệ Năng nói với thượng tọa Huệ Minh khi ông này đuổi theo ngài để dành lại chiếc áo pháp nhưng không được: “ Ông đã vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm. Tôi sẽ vì ông nói. Huệ Minh im lặng giây lâu, Huệ Năng bảo: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là Bản Lai Diện Mục của thượng tọa Minh ? ( Pháp Bửu Đàn Kinh – Phẩm Hành Do ).
Thiền Tông chủ trương lấy Vô Niệm làm tông thú để theo và khi đạt tới cảnh giới ấy sẽ thành Phật. Đức Lục Tổ Huệ Năng nói: “ Này thiện trí thức, người ngộ được Pháp Vô Niệm thì muôn pháp đều thông. Người ngộ được Pháp Vô Niệm thì thấy cảnh giới của Chư Phật. Người ngộ được Pháp Vô Niệm thì đến địa vị Phật” ( Pháp Bửu Đàn Kinh đã dẫn ).
Thiền Tông lấy Vô Niệm làm tông nhưng chủ trương này trong thực tế rất khó để thành tựu nhất là trong giờ phút lâm chung, hấp hối thập tử nhất sinh. Cái khó ấy không chỉ dành cho tuyệt đại chúng sinh mà còn cho cả những bậc đại triệt, đại ngộ như thiền sư Tri Húc:
“ Người học Phật tinh thâm, ai cũng biết tên tuổi ngài Tri Húc Đại Sư là một trong giới Thiền Tông. Từ miệng ngài đã nói ra: Khi Húc tôi mới xuất gia, tự phụ là Thiền Tông, khinh miệt các giáo môn khác, dám nói rằng Pháp Môn Niệm Phật chỉ dành cho người trung căn hoặc hạ căn. Về sau, nhân vì ốm nặng, mới phát tâm cầu về Tây Phương Cực Lạc, mới chịu nghiên cứu các sách Diệu Tôn, Viên Trung, Vân Thê Sớ Sao thì mới biết “ Pháp Môn Niệm Phật Tam Muội” quý giá vô ngần, mới chịu hết lòng Niệm Phật với sức mạnh bằng vạn con trâu kéo không lại” ( HT Thích Tuệ Nhuận – Kinh A Di Đà Yếu Giải ).
Tịnh Độ Tông lấy câu Niệm Phật làm yếu chỉ của việc tu hành cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Niệm Phật đơn giản có nghĩa là Nhớ Phật. Và việc Nhớ ấy nếu hiểu như là Biết là Gặp thì cũng là một với NGỘ không khác. Chúa Giê Su luôn đòi hỏi con người lòng yêu mến để được Ngài ban ơn: “ Ai có các điều răn của Ta và giữ lấy, ấy là kẻ yêu thương Ta. Còn ai thương yêu Ta sẽ được Cha Ta thương yêu lại. Ta cũng thương yêu người và tỏ mình Ta cho người” ( Ga 17, 21 ).
Yêu mến Chúa và luôn tưởng nhớ đến Chúa sẽ được Ngài…tỏ mình cho tức NGỘ được Ngài. Bí Tích Thánh Thể là một phương thế vô cùng tuyệt diệu và có thể nói theo ngôn ngữ Thiền là Pháp Môn Vô Tiền Khoáng Hậu xưa nay chưa từng có để Chúa Giê Su có thể…ở lại trong tâm hồn người tín hữu ! Chúa Giê Su luôn muốn ở lại với chúng ta: “ Các con hãy lưu lại trong Thầy và Thầy lưu lại trong các con” ( Ga 15, 4 ).
Chúa…ở trong chúng ta và chúng ta…ở trong Chúa qua Bí Tích Thánh Thể không hệ tại ở những hình thức bên ngoài như Rước Lễ hay Chầu Thánh Thể. Những hình thức bên ngoài không nói lên điều gì cả nếu nó không phát xuất từ bên trong tức từ nơi tư tưởng. Bởi vậy giáo hội mới có Kinh Chịu Lễ Thiêng do thánh Alphongse De Liugori soạn thảo dành cho những ai không có điều kiện đến với Thánh Lễ…Thánh Prancis De Sales có thể nói đã dùng toàn bộ cuộc sống của ngài để thực hiện Rước Lễ Thiêng Liêng lâu nhất là 15 phút một lần ngoại trừ những lúc ăn và ngủ…Thánh Maximilien Kolbe cũng vậy, ngay từ hồi còn là sinh viên, cũng thầm Rước Lễ Thiêng Liêng mỗi khi có thể kể cả những khi thức giấc lúc nửa đêm…
Yêu mến Chúa Giê Su để được Ngài…tỏ mình cho. Đây là cốt yếu đời sống đạo của người Công Giáo. Thế nhưng làm sao có được lòng yêu mến ấy nếu không có Đức Maria với sứ mạng cao cả là cưu mang, sinh hạ Chúa Giê Su trong tâm hồn các tín hữu ? Thánh Leo cả đã nói về việc sinh hạ thiêng liêng ấy như sau: “ Cùng một năng lực của Đấng Chí Cao cùng một tác động của Chúa Thánh Thần đã làm cho Maria sinh ra Đấng Cứu Chuộc cũng làm cho người tín hữu sinh ra trong nước tái sinh” ( M.V Bernadot O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).
Từ khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, mỗi người Công Giáo đã được Đức Mẹ cưu mang, sinh hạ Chúa Giê Su trong linh hồn như một hạt giống ( Chủng Tử ) tiềm năng. Hạt giống Giê Su mỏng manh yếu ớt ấy rất cần được Đức Mẹ chăm sóc giữ gìn bằng cách nhắc nhở ta luôn nhớ đến Ngài dù những khi gặp phải gian nan, thử thách. Suy cho cùng dù chịu khổ đau hay nghèo khổ đến đâu mà cuối cùng được chết trong Ơn Nghĩa Chúa thì không có hạnh phúc nào có thể sánh bằng: “ Trong ngày anh em đã được chịu Phép Cắt Bì không phải phép cắt bì do tay người phàm nhưng là Phép Cắt Bì của Đức Ky Tô có sức lột bỏ con người tội lỗi của anh em. Anh em đã cùng chết với Đức Ky Tô khi chĩu Phép Rửa lại cũng sẽ được sống lại với Ngài vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Ngài sống lại từ cõi chết” ( Cl 2, 11 -12 )./.
Phùng Văn Hóa
( Viết xong tại Trà Cổ – Tuần Thánh 2026 ).