Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” ( Salve Regina ) rất được hâm mộ và phổ biến cả trong Phụng Vụ lẫn Cộng Đoàn. Tuy nhiên, về nguồn gốc, xuất xứ cũng như ý nghĩa sâu xa của Kinh Nguyện này thì có thể cũng có nhiều người chưa biết ?
Vào khoảng năm 1100, bên Đức có một gia đình sang trọng, đạo đức sinh được cậu con trai, đặt tên là Herman. Được cha mẹ thương yêu, nhưng từ khi mới lọt lòng, cậu đã mang tật nguyền…Về hình dáng thì thấp bé, miệng mồm méo xệch, lớn lên với cái lưng còng, đi lại khó khăn. Về tâm trí thì tối tăm, ngờ nghệch. Cha mẹ có phần xấu hổ, không muốn con mình tiếp xúc với ai.
Khi lên 12 tuổi, cha mẹ đón một thầy dòng về nhà để dạy dỗ, nhưng suốt 02 năm trời cậu học trước quên sau, chỉ nhớ được vài lẽ đạo thông thường như có một Thiên Chúa Ba Ngôi dựng nên trời đất muôn vật. Ngôi Hai xuống thế làm người sinh bởi Đức Mẹ Maria để chuộc tội cho thiên hạ !
Khi lên 16 tuổi, chàng thanh niên ấy nhận thấy mình tàn tật như thế nên sinh ra buồn bã, than thân, tủi phận. Thầy dòng thấy vậy thì khuyên học trò mình hãy chạy đến kêu van cùng Đức Mẹ, xin Người cứu giúp nhưng dù có cố gắng, tình trạng cũng chẳng có gì chuyển biến. Mặc dù vậy, chàng vẫn không nản lòng nên được Đức Mẹ dủ lòng hiện ra sáng láng và hứa cho cậu được chọn trong hai điều: Một là được hết tật nguyền phần xác, hai là có được trí thông minh, sáng suốt.
Sau một lát chần chừ, cậu đã xin với Đức Mẹ cho được trí thông minh. Điều cầu xin này rất đẹp lòng Đức Mẹ và thế là Ngài đã ban cho cả hai, vừa khỏi tật nguyền vừa được trí thông minh ! Sau đó, Herman đã chăm chỉ học hành vượt xa chúng bạn và xin được vào Tu trong một nhà dòng, tại đó thầy đã nghiên cứu và viết được nhiều tác phẩm có giá trị, ca ngợi lòng nhân từ của Đức Mẹ cũng như để lại một Kinh Nguyện đơn sơ, chân thành nhưng rất có giá trị về mặt tâm linh được truyền tụng mãi cho tới tận ngày nay !
Qua sự kiện trên đây cho thấy hai điều quan trọng: Một là con người ta chỉ thành tâm và kiên trì cầu nguyện khi đã ý thức được hoàn cảnh khổ đau của mình, thế gian không thể cứu giúp, và hai là lời cầu xin được trí thông minh sở dĩ đẹp lòng Đức Mẹ bởi vì nó đáp ứng được với Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa qua Đức Maria, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội Trung Gian Các Ơn.
Trong tư cách là Hội Viên Tán Trợ của Legio, tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm Thiên Chúa Cứu Độ qua Trung Gian Đức Maria, vì như thánh G. Monfort nói: Ngài là Bạn Chí Thiết của Chúa Thánh Thần:
“ Con xin Chúa đến với con và cho con đầy Ơn Chúa. Nhờ quyền năng của Chúa bảo trợ các hoạt động yếu đuối của con. Con được biến thành dụng cụ thực hiện kế hoạch vĩ đại của Chúa. Nhưng con biết Chúa là Đấng đã đến tái sinh thế giới trong Chúa Ki Tô. Chúa chỉ muốn thực hiện công cuộc này qua Đức Maria thôi. Không có Mẹ, chúng con không thể biết và mến Chúa. Chúa chỉ ban những thiên tài, đức hạnh và ân sủng cho ai, lúc nào, bao nhiêu, cách nào đều tùy Mẹ và nhờ Mẹ” ( Kinh Tuyên Hứa – TB, chương 15, C 167 ).
Lý do khiến Legio tuyên xưng: Chúa chỉ muốn thực hiện Kế Hoạch Cứu Độ qua Đức Maria vì Ngài chính là cái khuôn đúc nên Con Thiên Chúa theo như nhận định của thánh Augustin:“ Đức Maria là cái khuôn sống động của Chúa, có nghĩa Thiên Chúa Làm Người được hình thành con người đầy đủ về mặt tự nhiên mà cũng không thiếu nét nào của Bản Tính Thiên Chúa. Cũng vậy, chỉ nơi Đức Maria mới đúc tạo nên giống Thiên Chúa nhờ Ơn Chúa Ki Tô và tùy mức độ của sức loài người có thể thu nhận được” ( Sách Vàng – Sống Tận Hiến Thánh Monpho ).
Đức Maria là cái khuôn mẫu…đúc nên Con Thiên Chúa là Chúa Giê Su, vì thế những ai đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, từ trong tiềm năng cũng đều là Con Thiên Chúa và là anh em với Chúa Giê Su: “ Quả vậy, phàm ai được thần khí soi sáng đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta kêu lên: Abba, Cha ơi ! Chính Thần Khí chứng thực cho tâm trí chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy, đã là con thì cũng là thừa kế mà đã được Thiên Chúa cho thừa kế thì tức là đồng thừa tự với Đức Ki Tô vì một khi đã cùng chịu khổ với Người, chúng ta cũng sẽ được hưởng vinh quang với Người. Phần tôi, tôi nghĩ rằng những đau khổ đời này chẳng có thể sánh được với vinh quang Chúa sẽ tỏ ra cho chúng ta trong đời sau” ( Rm 8, 14 -18 ).
Người đời mê mải tìm kiếm hạnh phúc mà không hề để tâm suy nghĩ về lẽ vô thường, chóng qua của cõi đời hư ảo này. Đang khi đó, chúng ta những con cái Chúa cần luôn nhớ rằng qua Bí Tích Thánh Tẩy, mình đã chết đi tính xác thịt để được cùng sống lại với Đức Ki Tô: “ Vậy, nếu anh em đã được đồng sống lại với Đấng Ki Tô thì hãy lo tìm kiếm các sự ở trên trời, nơi Đức Ki Tô ngự bên hữu Chúa Cha. Hãy để tâm trí xu hướng về các sự ở trên, đừng xu hướng về những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, sự sống của anh em đã giấu nơi Đấng Ki Tô trong Thiên Chúa Cha. Khi nào Đấng Ki Tô là sự sống của chúng ta hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ cùng hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển” ( Cl 3, 1 -4 ).
Cùng chết với Đức Ki Tô, để cùng sống lại với Ngài ! Là môn đệ Chúa Ki Tô thì ngày càng phải nên giống Thầy mình, như vậy mới thật là người có phúc: “ Nhưng phúc cho mắt các ngươi vì thấy được, cho tai các ngươi vì nghe được. Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, có nhiều tiên tri và người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy mà chẳng được thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe mà chẳng được nghe” ( Mt 13, 16 -17 ).
“ Thấy” ở đây là thấy Đấng Cứu Thế Giê Su xuất sinh nơi đời. Còn “ Nghe” có nghĩa là tin nhận Tin Mừng mà Ngài rao giảng. Có…thấy được Đức Ki Tô như đúng thực Ngài Là thì mới có thể tin nhận được Tin Mừng, ngược lại thì không ! Chính bởi lẽ đó, “ Thấy” được Đức Ki Tô là một vấn đề hết sức quan hệ cho đời sống tâm linh của người tín hữu !
Trong Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” mà người Công Giáo chúng ta vẫn tụng đọc hàng ngày trong đó có câu: “ Xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giê Su, Con lòng Bà gồm phúc lạ”. Theo tinh thần của Kinh Nguyện thì việc “ Thấy” ấy chỉ diễn ra sau khi chết chứ không phải ngay trong cõi đời này. Thế nhưng, nếu trong cõi đời này mà không cầu xin và làm các việc lành phúc đức để được “ Thấy” Chúa Giê Su thì cũng chẳng làm sao có thể “ Thấy” được Chúa trong đời sau vô cùng ấy !
“ Hỡi con, khi đứng trước giờ chết, con có sợ như cây vả không trái kia mà Chúa đã quở trách: “ Anh coi, đã ba năm nay, tôi ra cây vả này tìm trái mà không thấy” ( Lc 13, 7 ). Con ơi, con đã sinh ra không phải mới ba năm. Có khi đã nhiều năm rồi, nhưng con đã sinh ra được trái nào chưa ? Thánh Benado đã nói: Con hãy biết, Chúa không chỉ tìm hoa mà thôi đâu, Chúa lại tìm trái nữa, nghĩa là nếu con chỉ ước ao và dốc lòng làm lành mà thôi thì chưa lấy làm đủ, Chúa còn đòi con phải làm việc lành phúc đức nữa Chúa mới chịu” Thánh An Phong – Việc Rỗi Linh Hồn ).
Trong lãnh vực tâm linh, Chúa không có ý tìm hoa mà là tìm trái. Hoa ở đây tượng trưng cho Phúc Đức còn Trái là Công Đức. Để phân biệt sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, thiết nghĩ không gì hơn là trưng dẫn cuộc đối đáp giữa tổ Đạt Ma và vua Lương Võ Đế:
“ Thứ sử thưa với lục tổ Huệ Năng: Đệ tử nghe Tổ Đạt Ma khi mới đến gặp vua Lương Võ Đế, vua hỏi: Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai có những công đức gì ? Tổ Đạt Ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong hòa thượng vì tôi nói:
Tổ bảo: Thật không có công đức, chớ nghi lời của tiên thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu phước chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công Đức là ở trong Pháp Thân, không phải do tu phước mà được. Tổ lại nói: Thấy Tánh ấy là Công, bình đẳng ấy là đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy Bản Tánh chân thật, diệu dụng gọi là công đức.. Trong tâm khiêm hạ ấy là công, bên ngoài hành lễ, phép ấy là đức…
…Công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý chứ không phải tổ sư ta có lỗi” ( Pháp Bửu Đàn Kinh – Phẩm Nghi Vấn ).
Lục tổ Huệ Năng phân tích rõ ràng sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, mục đích là để khai sáng con đường đốn ngộ Thiền Tông. Đối với Đạo Chúa cũng vậy, cũng cần nhận ra sự khác biệt ấy mới có thể thực hiện có kết quả Con Đường Giải Thoát của Đức Ki Tô:
“ Bấy giờ có người đến thưa với Ngài rằng: Tôi phải làm việc lành chi để được sự sống đời đời ? Chúa Giê Su đáp: Sao ngươi hỏi Ta về việc lành ? Chỉ có một Đấng Trọn Lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy giữ các giới răn. Người ấy hỏi: Giới răn nào ? Chúa đáp: Chớ giết người, chớ gian dâm, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối. Hãy hiếu kính cha mẹ và hãy yêu kẻ làm ơn cho mình. Gã thanh niên đó thưa rằng: Mọi điều đó tôi đã vâng giữ rồi, còn thiếu chi nữa không ? Chúa phán: Nếu ngươi muốn nên trọn lành thì hãy về, bán hết của cải ngươi bố thí cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của báu trên trời rồi hãy theo Ta. Nhưng khi gã trai trẻ ấy nghe lời ấy thì buồn rầu bỏ đi vì người có tài sản nhiều lắm” ( Mt 19, 16 -22 ).
Người thanh niên ấy không thể theo Chúa bởi còn chấp giữ vào tài sản, cho tất cả những thứ đó là…thật có. Đang khi ấy, bước đường theo Chúa đòi hỏi cần có sự từ bỏ và từ bỏ, theo nghĩa sâu xa nhất đó là Bỏ Mình tức bỏ đi hai cái chấp. Một là chấp cho xác thân này là mình, hai là chấp những nghĩ suy, lo lường, phân biệt là mình.
Sở dĩ Chúa nói cần bỏ đi hai cái chấp ấy bởi chúng chỉ giả có chứ không thật có. Ngược lại, nếu nó…thật có thì cần gì phải bỏ mà bỏ sao được ? Dẫu vậy, Bỏ Mình là việc rất khó, Nếu không biết ý nghĩa và mục đích của việc làm ấy, chúng ta không bao giờ có thể thực hành trong đời sống mình được !: “ Chúa Giê Su bèn phán với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi cứ ở trong Đạo Ta , các ngươi sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát các ngươi” ( Ga 8, 31 -32 ).
Có bỏ được mình tức bỏ Ngã Chấp đi thì mới có thể nhận biết Sự Thật và Sự Thật đó chính là mỗi người trong chúng ta đều được tác tạo là Hình Ảnh Thiên Chúa là Con Thiên Chúa ( St 1, 26 ). Được tác tạo là Con, nhưng thật sự thì phàm nhân chúng ta không một ai có được sự nhận biết Thiên Chúa như là Đấng Cha của mình. Tuy vậy, sự nhận biết ấy lại vô cùng cần thiết vì sẽ đem lại sự sống đời đời cho mình “ Chúa Giê Su nói những điều ấy rồi thì ngước mắt lên trời, nguyện rằng: Cha ơi, giờ đã đến, xin Cha hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha lại tôn vinh Cha cũng như Cha đã ban quyền bính cho Con trên mọi xác thịt hầu hễ ai Cha đã ban cho Con thì Con ban cho họ sự sống đời đời. Còn sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa thật cùng Giê Su mà Cha đã sai đến” ( Ga 17, 1 -3 ).
Thiên Chúa là Đấng Cha của mỗi người, hơn nữa còn là nguyên lý thành toàn của muôn loài chúng sinh, vạn vật. Nếu có thể có một hình tượng nào để hình dung ra Nguyên Lý ấy, chúng ta có thể ví Thiên Chúa như là chất cây để làm nên các vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ v.v…Các vật dụng ấy có thể khác nhau về hình dáng cũng như công dụng nhưng cũng được làm từ chất cây hoặc chất nhựa, nhôm, sắt v.v…Không có những nguyên liệu ấy thì không thể nào làm ra các vật dụng ! Thêm một ví dụ khác cho dễ hiểu, ví như chất bột làm nên các thứ bánh như bánh mì, bánh chưng, bánh Ít…Các thứ bánh tuy khác nhau về hình dáng, mùi vị, màu sắc nhưng đều được làm từ chất bột mà nên….
Nói theo ngôn ngữ Phật Học thì Thiên Chúa chính là Chân Tâm, là Tánh Biết hay còn gọi là Giác Tánh là Phật Tánh hằng hữu ở nơi mỗi người. Chúa Giê Su Ki Tô được sai đến để mạc khải về Đấng Cha, chân lý ấy quả là vĩ đại nhưng lại rất khó để tin.“ Người Do Thái vây quanh Chúa Giê Su và nói: Thầy còn để chúng tôi vơ vẩn cho đến chừng nào, nếu thầy là Đấng Ki Tô thì hãy nói tỏ tường cho chúng tôi đi ? Chúa đáp: Ta đã nói cho các ngươi mà các ngươi không tin. Những việc Ta nhân danh Cha Ta mà làm đều làm chứng cho Ta. Nhưng các ngươi không tin Ta vì các ngươi chẳng thuộc về đoàn chiên của Ta. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời, chúng hẳn chẳng bị hư mất bao giờ, chẳng ai có thể giật chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng đã ban chúng cho Ta, vốn lớn hơn hết, chẳng ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Ta. Ta với Cha là một” ( Ga 10, 24 – 30 ).
Người Do Thái nêu thắc mắc về thân phận Chúa Giê Su, Ngài có phải là Đấng Ki Tô hay không nhưng Ngài đã thẳng thừng đáp: Các ngươi không thể biết vì lẽ các ngươi không thuộc đoàn chiên của Ta, chiên Ta thì nghe tiếng Ta !. Qua lời Chúa đây cho thấy, để nhận biết Đức Ki Tô như thật Ngài Là thì cần hai điều kiện. Một là phải thuộc đoàn chiên tức ở trong Giáo Hội Tông Truyền và hai là phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
Trong hai điều kiện ấy, thì việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa là quan hệ bậc nhất mang tính quyết định phần rỗi của mỗi người: “ Khi Chúa Giê Su đang giảng dạy thì trong đám đông có một phụ nữ cất tiếng: Phúc cho người mẹ nào đã cưu mang Thầy và đã cho Thầy bú mớm. Nhưng Chúa đáp lại rằng: Đúng vậy, nhưng còn có phúc hơn kẻ nào biết lắng nghe và thực thi Thánh Ý Chúa” ( Lc 11, 27 -28 ).
Có nhiều nhà thần học cho rằng lời Chúa đây đã tôn vinh công trạng của Đức Maria tới hai lần. Một là Đức Mẹ đã có công cưu mang và sinh hạ Chúa Giê Su về phần xác, hai là đã không giữ lại Người Con Chí Thánh ấy cho riêng mình mà đã dâng vào đền thờ như một của lễ hy sinh để rồi nghe tiên tri Simeon tiên báo về cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Thế cũng như đau khổ tột cùng mà Người Mẹ ấy sẽ chịu ( Lc 2, 34 -35 ).
“ Tuy vậy, Đức Maria đã nhận con lại và đem về Nazareth. Mẹ sống cuộc đời gia đình êm ấm với Chúa. Nhưng chắc là Mẹ không quên lời tiên tri của Simeon. Mẹ sống trong ý tưởng hiến tế của Chúa Giê Su, trong viễn ảnh Núi Sọ. Cụ già thánh thiện kia đã dựng thập giá lên trước mặt Mẹ và Mẹ đã không ngừng nhìn ngắm. Là Mẹ rất dịu hiền, Mẹ lo săn sóc cho con lúc thơ ấu cả lúc thiếu thời, song như một vị thầy cả sửa soạn lễ vật làm lễ hy sinh. Như Apraham leo núi nơi Người sẽ phải tế lễ con. Maria mỗi ngày cũng tiến về Núi Sọ. Ngày dâng con vào đền thờ, Đức Mẹ thật đã lập lại lời ưng thuận sống mầu nhiệm cao cả: Nhận hy sinh Con Mẹ để cho ta được rỗi. Chính vì ta mà Mẹ đã phải đau khổ” ( M.V Bernado O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).
Đức Maria đã…chịu khổ vì vâng theo Thánh Ý Chúa để lo lắng phần rỗi cho mỗi người, đồng thời để ta có được lòng cậy trông cần thiết trong giờ phút lâm chung, hấp hối: “ Những ai trung thành Lần Chuỗi Mân Côi khi sống và nhất là trong giờ chết sẽ được ánh sáng của Chúa soi dẫn với đầy dẫy ơn huệ của Ngài. Và khi lâm tử, họ sẽ được tham dự vào những công nghiệp của các thánh trên Thiên Đàng” ( Lời hứa thứ tám trong 15 Lời Hứa đã được ban cho thánh Đa Minh ).
Đức Mẹ đã ban lời hứa vô cùng quý giá cho những ai siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi. Thế nhưng thử hỏi trong số những người Công Giáo được kể là…ngoan đạo hôm nay còn có mấy ai tin tưởng và thực hành Kinh Nguyện này để được ơn ích như Đức Mẹ đã khuyên nhủ trong nhiều lần hiện ra trên khắp thế giới ?
Nguyên nhân khiến việc sống đạo nói chung và thực hành Kinh Mân Côi nói riêng hiện trong cơn khủng hoảng trầm trọng đó là vì người ta đã không biết được ý nghĩa cũng như mục đích của việc làm ấy là gì ? Có biết được triết lý ( Lý ) của Kinh Mân Côi thì người ta mới hâm mộ thực hành ( Sự ). Trong lãnh vực tâm linh giữa Lý và Sự cần phải viên dung thì mới có cơ thành tựu, ngược lại thì không !
Kinh Mân Côi thuộc về Tâm Pháp, bởi đó việc thực hành Kinh Nguyện này phải phát khởi từ ở nơi Tâm chứ không thể chỉ ở ngoài môi miệng như Chúa Giê Su đã truyền dạy: “ Còn ngươi, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng kín cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).
Vào phòng, đóng kín cửa lại có nghĩa khi cầu nguyện thì phải thu thúc lục căn ( Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý ) đừng cho nó phóng xuất ra bên ngoài nơi hiện tượng giới. Mục đích của việc….thu thúc ấy chính là để làm sao cho ta có thể an trụ được hai Thánh Danh Giê Su và Maria trong tâm tưởng mình và khi ấy chính Thánh Danh Giê Su sẽ cứu ta thoát khỏi cám dỗ của kẻ thù Sa Tan hòng lôi kéo ta vào vòng trói buộc vô cùng độc hại của nó: “ Cũng vì cớ đó, nên Thiên Chúa đã nhắc Ngài lên rất cao, ban cho Ngài Danh vượt trên mọi danh, hầu cho mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất đều nhơn Danh Giê Su mà quỳ gối xuống và mọi lưỡi đều thừa nhận Giê Su Ki Tô là Chúa để quy phục Thiên Chúa là Cha” ( Pl 2, 9 – 11 )./.
Phùng Văn Hóa