VẤN  ĐỀ  “NGỘ” TRONG  KI TÔ GIÁO

Một thực tế không ai có thể phủ nhận đó là giới trí thức Tây Phương đang…tìm đến với Phật Giáo ! Điều này đã được ký giả người Ý, Vittorio Messori nêu lên trong cuộc phỏng vấn với đức giáo hoàng Gioan Phao Lô II năm 1994: “ Như đức thánh cha đã biết, hình như giáo lý giải thoát của Phật Giáo  đang lôi cuốn  một số lớn người Tây Phương như để thay thế cho Ky Tô Giáo hay như một thứ bổ túc ít ra là về những gì liên quan đến kỹ thuật tu đức và huyền bí” ( Bước Vào Hy Vọng – Câu hỏi số 14 ).

Với câu hỏi được đưa ra như thế  cho thấy có hai điểm cần lưu ý. Một là giới trí thức Tây Phương  hiện nay sẵn lòng thay thế Ky Tô Giáo bằng Phật Giáo vì cho rằng chỉ ở đó mới có giáo lý giải thoát. Hai là với những người  không muốn rời bỏ Ky Tô Giáo nhưng cho rằng cần phải “bổ túc” bằng một kỹ thuật tu đức mang tính thần bí và kỹ thuật ấy phải chăng chính là  Thiền Tông Đại Thừa ?

Thiền Tông du nhập vào Trung Hoa  khởi đầu với lời tuyên bố dõng dạc của tổ  Bồ Đề Đạt Ma: “ Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến Tánh thành Phật” Chủ trương bất lập văn tự không có nghĩa là phế bỏ kinh sách nhưng chỉ coi Kinh Sách như  một thứ phương tiện  giúp cho con người bước đầu khai ngộ và khai ngộ ở đây  chính là nhận biết được Bản Tâm, Bản Tánh mình. Cái bước đầu khai ngộ ấy  đối với Thiền Tông là hết sức  quan hệ. Cũng bởi tính chất quan hệ ấy, ngũ tổ Hoàng Nhẫn nói với Huệ Năng sau này là tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Hoa: “ Bất thức bổn tâm, học đạo vô ích”.

Trên đường Hành Thiền, biết được Bản Tâm  là điều rất ư quan hệ. Thế nhưng chỉ  Biết thôi thì  chưa đủ. Để rõ được điều này xin đưa ra  ví dụ  giống như người đi tìm  vàng  nhưng vàng này lại lẫn trong quặng. Nếu chỉ biết…có vàng  thế thôi mà không khai quật để lấy  nó  ra thì nào ích lợi gì đâu ? Nếu chấp vào cái biết ấy như một thứ kiến thức, Nhà Thiền gọi đích danh nó là Sở Tri Chướng, một thứ chướng ngại cản trở cho việc giải thoát.

Trí thức Tây Phương  cho rằng cần “ Bổ Túc” cho Ky Tô Giáo  một kỹ thuật Tu Đức  cho đó là Thiền nhưng thực ra họ vẫn chưa có sự hiểu biết về Thiền chứ đừng nói chi   đến thực hành để mang lại lợi ích cho phần tâm linh:

“ Những người Tây Phương nhiệt thành nghiên cứu Thiền thường thấy rằng sau khi cái quyến rũ ban đầu đã mòn mỏi. Những bước tiếp tục  cần thiết để theo đuổi nó một cách đứng đắn trở thành chán nản và vô hiệu quả. Cái kinh nghiệm “ Ngộ”  thì tuyệt diệu thật nhưng vấn đề  chủ yếu  là làm thế nào  để thể nhập vào kinh nghiệm ấy ? Vấn đề nắm bắt “ Nàng Phù Thủy Thiền” khiêu khích này đối với đa số những người hâm mộ Thiền ở Tây Phương  vẫn chưa được giải quyết…

….Ấy bởi vì việc nghiên cứu Thiền ở Tây Phương vẫn còn trong giai đoạn vỡ lòng và các người học vẫn còn luẩn quẩn  trong cái vùng mơ hồ  giữa việc “ quan tâm  đến  và hiểu”  Thiền. Đa số họ chưa đạt đến mức chín chắn trong việc nghiên cứu  để họ có thể thực sự tu tập Thiền, chứng đắc Thiền và biến Thiền thành cái sở hữu thâm sâu nhất của họ” ( Thiền sư Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập ).

Thiền không bao giờ là đối tượng của sự hiểu biết bởi vì mục đích sâu xa của nó là đạt tới sự chứng ngộ. Tuy nhiên sự chứng ngộ  của Thiền trong thời mạt pháp này là điều bất khả, lý do là vì Thiền Tông là một pháp môn hoàn toàn dựa vào tự lực. Tại sao tu tự lực như thế  lại bất khả cho việc giải thoát ? Đó là vì  nó cần phải đoạn được cả Kiến Hoặc cũng như Tư Hoặc. Đoạn Kiến Hoặc khó như ngăn một  dòng sông rộng 40 dặm, còn đoạn Tư Hoặc  lại muôn vàn lần khó hơn. Như vậy, việc giải thoát sinh tử  có phải là việc dễ dàng đâu ? ( HT Thích Trí Tịnh – Thiền Tịnh Quyết Nghi ).

Việc Tu Thiền bằng tự lực như thế là điều  bất khả dù cho ngay cả với  những bậc đã  đại  triệt, đại ngộ. Tại sao thế ? Bởi vì việc giải thoát ấy cần phải  thành tựu ngay trong kiếp sống này còn qua kiếp sau  biết  có  còn  mang thân người  để  tiếp tục TU hay không ?

Chính bởi cái khó tột cùng ấy, nên tổ Vĩnh Minh mới đề ra bốn câu kệ ( Tứ Liệu Giản ) Trong đó  Liệu Giản thứ ba, ngài nói:

“Có Thiền mà không Tịnh Độ

Mười người hết chín người chần chờ

Đến lúc ấm cảnh hiện tiền

Chớp mắt theo nó mà đi”

Sống ở đời, ai ai cũng phải đến lúc phải  nhắm mắt xuôi tay và khi ấy  dù chỉ một tạp niệm khởi lên cũng bị nó dẫn vào con đường  bất định: “ Biển sanh tử rộng sâu, đường Bồ Đề xa vời, chưa  kịp quy gia  mà tử thần đã đến. Mười người đại ngộ thì có chín người như thế, có nghĩa còn chần chờ chưa biết đi về đâu ? ( HT Thích Trí Tịnh – Thiền Tịnh Quyết Nghi ).

Chưa kịp quy gia mà tử thần đã đến tức chưa kịp…Về Nhà thì đã chết ! Về Nhà ở đây theo nghĩa của Đạo Công Giáo  chính  là  Về Nhà Cha. Toàn bộ  mục đích sống đạo của người Công Giáo đó  chẳng phải là  để sau khi chết  được Chúa Ki Tô đón về Nhà Cha như lời Ngài đã hứa hay sao ?:

“ Lòng các ngươi chớ bối rối, đã tin Thiên Chúa  thì cũng hãy tin Ta nữa. Trong Nhà Cha Ta  có nhiều chỗ. Bằng chẳng có như vậy thì Ta đã nói cho các ngươi rồi, Ta đi để  sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đi mà sắm sẵn cho các người  một chỗ rồi thì Ta sẽ trở lại, tiếp các ngươi về với Ta  hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi sẽ ở đó với Ta” ( Ga 14, 1 -3 ).

Chúa Giê Su Ky Tô đã phục sinh  về với Cha tức vế Cõi Sống Đời Đời Bất Diệt là Nước Thiên Đàng. Người Công Giáo chúng ta tin vào lời hứa ấy, thế nhưng chỉ tin thôi  chưa đủ  mà còn phải sống niềm tin ấy  có nghĩa cần gặp gỡ  Chúa Ky Tô ngay trong cuộc đời  mình.

Gặp gỡ Chúa Ky Tô hay nói theo ngôn ngữ Thiền đó chính là “ Ngộ” . Như vậy, gặp gỡ Chúa Ky Tô  đó phải là  lẽ sống của người Công Giáo  và  chính sự gặp gỡ ấy sẽ cho chúng ta gặp được Chúa Cha cũng là Chân Tâm, Bản Tính mình: “ Chúa Giê Su nói với Philip khi tông đồ này thưa với Ngài: “ Xin chỉ  Cha cho  chúng tôi thì đủ rồi. Chúa  phán: Philip ơi, Ta ở cùng các ngươi  lâu dường này  mà ngươi há chưa biết Ta sao ? Ai đã thấy Ta  tức là thấy Cha. Sao ngươi lại nói xin chỉ Cha cho chúng tôi ?  Ngươi há không tin  rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta hay sao ? Lời Ta nói với các ngươi chẳng phải tự Ta nói đâu, bèn là Cha ở trong Ta làm việc của Ngài” ( Ga 14, 8 -10 ).

Chúa nói: Ai thấy Ta là thấy Cha và…thấy ở đây  dĩ nhiên không phài bằng con mắt xác thịt nhưng chính là NGỘ, là gặp Ngài như chính là Ngài. Gặp Chúa Giê Su như chính Ngài  đó là NGỘ và quả thật vào lúc Chúa Giê Su  còn tại thế, các Tông Đồ  chưa có vị nào thực sự gặp ( Ngộ ) Chúa Giê Su và cũng bởi vì…chưa gặp  thế nên  các ông vẫn lầm tưởng Ngài với Đấng Messia trong truyền thống Do Thái Giáo. Sự lầm lẫn ấy xảy ra ngay cả khi Chúa Giê Su đã sống lại. Có hai trường hợp điển hình về sự lầm lẫn  ấy. Một là với hai môn đệ đang trên đường về Emmau.

Sau khi Chúa Giê Su bị kết án  và chết treo trên thập tự giá thì các môn đệ  tan tác mỗi người mỗi ngả. Khi hai môn đệ trên đường về Emmau, Chúa Giê Su  Phục Sinh hiện ra  cùng đi  mà họ không biết thế nên đã nói: “ Nhưng chúng ta  đã hy vọng chính Ngài sẽ  chuộc dân Itsraen. Thế nhưng việc ấy ( Chúa bị giết ) đã xảy ra 03 ngày rồi ( Lc 24, 24 ).

“ Chuộc” ở đây có nghĩa  là đánh đuổi quân La Mã xâm lược, đem lại độc lập, tự do cho Dân Do Thái ! Sự lầm tưởng ấy  còn tái diễn  khi các Tông Đồ  nhóm lại trước khi Chúa thăng thiên, họ hỏi Ngài: “ Thưa Chúa, có phải đây là lúc Ngài khôi phục lại Nhà Itsraen hay không ?” ( Cv 1, 6 ).

Sự lầm lẫn  chỉ  chấm dứt sau Ngày Lễ Ngũ Tuần, được Chúa Thánh Thần soi sáng  để bước vào một giai đoạn mới của công cuộc  rao giảng Tin Mừng. Việc rao giảng ấy là theo lệnh truyền của Chúa Ky Tô Phục Sinh: “ Hãy ra đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Ai tin và chịu Phép Rửa thì được cứu. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt” ( Mc 16, 15 -16 ).

Lệnh truyền rất dứt khoát, ai tin và chịu Phép Rửa thì được cứu. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt. Sở dĩ lệnh truyền  mang tính dứt khoát như thế là vì Tin Mừng của Đức Ky Tô là về Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại ( Lc 17, 20 -21 ). Chúa Giê Su đã đưa ra nhiều ví dụ về Nước Trời Mầu Nhiệm, chẳng hạn: “ Nước Trời ví như của báu chôn trong ruộng, có người tìm được thì yểm đi, vui mừng mà về bán hết gia sản mình mà mua lấy thửa ruộng ấy” ( Mt 13, 44 ).

Của Báu ám chỉ cho Nước Trời còn  Ruộng là chỉ cho Tâm. Khi tìm được Của Báu chôn  trong ruộng  thì về bán hết gia sản mình mà mua lấy có nghĩa một khi đã NGỘ  ra rằng Của Báu là Nước Trời từ muôn kiếp vẫn hiện hữu ở nơi mình mà mình không hề hay biết ! Giờ đây khi đã NGỘ  ra  thì vui mừng về bán hết gia sản  tức bỏ đi  những cái mà mình trước đây cho là giá trị như tiền bạc, danh vọng, chức quyền  để bước theo Đức Ky Tô  hầu  trở về với Nước Trời Mầu Nhiệm còn ẩn giấu ở nơi Tâm mình.

Có một chứng nhân rất nổi tiếng về sự gặp gỡ ( NGỘ )  này  là thánh Phao Lô trong  biến cố Damas. Vị thánh nhân  trước đây đã từng bách hại Đạo Thánh Chúa cách dữ dội  nhưng đã được Ơn Chúa cho trở lại: “ Xảy khi đang trên đường  gần tới Damas , thình lình có ánh sáng  từ trời  chiếu xuống  khiến người,  từ trên ngựa té xuống  nghe  tiếng phán: Sao Lơ, Sao Lơ, sao ngươi tìm bắt Ta ? Người nói rằng: Thưa Chúa, Chúa là ai ? Ta là Giê Su mà ngươi đang tìm bắt đây. Hãy chỗi dậy, vào thành  sẽ có người  tỏ cho ngươi mọi điều cần phải làm” ( Cv 9, 3 -6 ).

Thánh Phao Lô  đã “ NGỘ” được Chúa Giê Su  trong hoàn cảnh rất đặc biệt  và  được trao cho  sứ mạng  lớn lao. Với cuộc gặp gỡ ấy  đã  hoàn toàn biến đổi cuộc  sống  thánh Phao Lô  và  ngài  đã  hiến trọn cuộc  đời  để phụng sự Chúa Ky Tô: “ Tôi đã  bị đóng đinh  với Đức Ky Tô trên thập tự giá. Dẫu vậy, tôi sống  nhưng không phải là tôi sống nữa bèn là Đức Ky Tô sống trong tôi. Nay tôi còn sống  trong xác thịt đây  ấy là  tôi nhơn đức tin mà sống  tức đức tin đến Con Thiên Chúa  là Đấng đã  thương yêu tôi và phó chính mình vì tôi” ( Gl 2, 20 ).

Thánh Phao Lô một khi  đã… NGỘ  được Đức Ky Tô  thì  đã không còn   cái nhìn về Ngài  như trước đây nữa. Có nhiều cái nhìn khác nhau về Chúa Giê Su khi chưa…gặp được Ngài. Với người Do Thái xưa kia thì Chúa Giê Su chỉ là con của bác thợ mộc Giu Se. Còn với Sao Lơ khi chưa trở lại thì Chúa Giê Su chỉ là một tên phản loạn ! Thế nhưng khi đã NGỘ được Ngài rồi thì cái nhìn ấy đã biến đổi hoàn toàn: “ Bởi đó cho nên  từ nay chúng tôi  không còn nhận biết ai theo xác thịt nữa. Dẫu rằng chúng tôi  từng  nhận biết Đức Ky Tô theo xác thịt. Song hiện nay chẳng còn nhận biết Ngài như vậy nữa. Vậy, nếu ai ở trong Đức Ky Tô  thì nấy là người  được dựng nên mới. Những sự cũ  đã qua đi. Này mọi sự  đều trở nên mới” ( 2C 5, 16 -17 ).

Mọi sự đều trở nên mới có nghĩa  đã có sự thay đổi trong quan niệm về  việc bố thí, về cầu nguyện  về tình yêu thương v.v…” Vậy khi ngươi bố thí thì đừng  thổi kèn  trước mặt mình như kẻ giả hình. Cầu nguyện thì phải xoay cái Tâm vào bên trong nơi có Đấng Cha ngự trị mà cầu. Yêu thương thì phải yêu cả kẻ thù nghịch cùng mình…( Mt 6, …).

Lý do có sự thay đổi trong quan niệm  cũng như hành động  như thế là vì Con Đường mà Chúa Giê Su truyền dạy có mục đích để ta có thể Ngộ Nhập được với Đấng Cha trong chính mình. Sự Ngộ Nhập ấy  có mục đích để cho ta Làm Hòa  được  với Thiên Chúa nhờ Đức Giê Su Ky Tô:

“ Mọi sự đều ra từ Thiên Chúa, Ngài đã nhờ Đức Ky Tô mà khiến chúng ta hòa lại với Ngài và Ngài trao cho chúng ta chức  dịch giải hòa. Ấy là Thiên Chúa  vốn ở trong Đức Ky Tô khiến cho thế gian  hòa lại với Ngài  chẳng kể cho sự lỗi phạm của họ và đã ủy thác Đạo Giải Hòa cho chúng tôi” ( 2C 5, 18 -19 ).

Nhờ Đức Ky Tô, chúng ta có  thể…  “hòa lại”  với Thiên Chúa  thì điều ấy có nghĩa trước đó đã có sự bất hòa và nguyên do đưa tới sự bất hòa ấy  là vì Nguyên Tổ đã không vâng lời Thiên Chúa, nghe theo cám dỗ của Rắn Sa Tan cố tình…ăn trái mà Đức Chúa đã cấm: “ Rồi, Giehova ĐCT  phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cậy trong vườn nhưng về cây biết điều thiện, điều ác thì chớ hề ăn đến. Vì một mai ngươi ăn, chắc là phải chết” ( St 2, 15 -17 ).

Như vậy, rõ ràng là Biết hay nói rõ hơn là Biết Phân Biệt điều thiện, điều ác  chính là Tội Nguyên Tổ, không còn có cách hiểu nào khác. Thế nhưng, tại sao phân biệt điều thiện, điều ác lại là một thứ tội khiến cho phải chết, đó là điều cần làm  sáng tỏ, nếu không sẽ không bao giờ có thể  tiếp cận được với các chân lý Thánh Kinh ? Hay nói  cách khác,  chỉ khi nào trả lời thỏa đáng cho vấn nạn này thì Con Đường Giải Thoát của Đạo Chúa mới được khai  thông mở lối !

Biết điều thiện, điều ác thì cái biết ấy thuộc về tư tưởng và Nhà Thiền gọi đích danh nó là Vọng Tưởng Phân Biệt. Khi vọng tưởng khởi thì lập tức mất đi Tâm Vô Phân Biệt cũng là Cái Tâm Bản Nhiên vốn hằng hữu ở nơi mỗi người, bậc thánh không tăng, kẻ phàm không giảm. Tâm Bản Nhiên ấy, Phật Giáo Đại Thừa  có nhiều tên gọi khác nhau hoặc là Phật Tánh ( Giác Tánh ) Hoặc là Bản Lai Diện Mục ( Bộ Mặt Xưa  Nay ) v.v…Còn Đức Ky Tô, tùy từng đối  tượng, tùy trường hợp có khi Ngài gọi là Nước Trời, khi khác là Đấng Cha v.v…

Đối với  Pháp Đốn Ngộ của  Thiền Tông  thì chủ trương Vô Niệm có nghĩa là không nghĩ  ác mà cũng không nghĩ thiện, bởi vậy lục tổ Huệ Năng nói với  thượng tọa Huệ Minh  khi ông này đuổi theo ngài để dành lại  chiếc áo pháp nhưng  không được: “ Ông đã vì pháp mà đến  thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm. Tôi  sẽ vì ông nói. Huệ Minh im lặng giây lâu, Huệ Năng bảo: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là Bản Lai Diện Mục của thượng tọa  Minh ? ( Pháp Bửu Đàn Kinh – Phẩm Hành Do ).

Thiền Tông chủ trương lấy Vô Niệm làm tông  thú để theo và khi đạt tới  cảnh giới ấy sẽ thành Phật. Đức Lục Tổ Huệ Năng  nói: “ Này thiện trí thức, người ngộ được  Pháp Vô Niệm thì muôn pháp đều thông. Người ngộ được Pháp Vô Niệm  thì thấy cảnh giới của Chư Phật. Người ngộ được Pháp Vô Niệm thì đến địa vị Phật”  ( Pháp Bửu Đàn Kinh  đã dẫn ).

Thiền Tông lấy Vô Niệm làm tông nhưng chủ trương này  trong thực tế rất khó để thành tựu nhất là trong giờ phút lâm chung, hấp hối  thập tử nhất sinh. Cái khó ấy không chỉ dành cho tuyệt đại chúng sinh mà còn cho cả những bậc đại triệt, đại ngộ như  thiền sư Tri Húc:

“ Người học Phật tinh thâm, ai cũng biết  tên tuổi ngài Tri Húc Đại Sư là một trong  giới Thiền Tông. Từ miệng ngài đã nói ra: Khi Húc tôi  mới xuất gia, tự phụ là Thiền Tông, khinh miệt các giáo môn khác, dám nói rằng Pháp Môn Niệm Phật  chỉ dành cho người trung căn hoặc hạ căn. Về sau, nhân vì ốm nặng, mới phát tâm cầu về Tây Phương Cực Lạc, mới chịu nghiên cứu  các sách  Diệu Tôn, Viên Trung, Vân Thê Sớ Sao thì mới biết “ Pháp Môn Niệm Phật  Tam Muội” quý giá vô ngần, mới chịu hết lòng Niệm Phật  với  sức mạnh  bằng vạn con trâu kéo không lại” ( HT Thích Tuệ Nhuận – Kinh A Di Đà Yếu Giải ).

Tịnh Độ Tông lấy câu Niệm Phật  làm yếu chỉ  của việc tu hành cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Niệm Phật đơn giản có nghĩa là Nhớ Phật. Và việc Nhớ ấy  nếu hiểu như là Biết là Gặp  thì  cũng là một với NGỘ không khác. Chúa Giê Su luôn đòi hỏi con người lòng yêu mến để được Ngài ban ơn: “ Ai có các điều răn của Ta và giữ lấy, ấy là kẻ yêu thương Ta. Còn ai thương yêu Ta sẽ được Cha Ta thương yêu lại. Ta cũng thương yêu người và tỏ mình Ta cho người” ( Ga 17, 21 ).

Yêu mến Chúa và luôn tưởng nhớ đến Chúa sẽ được Ngài…tỏ mình cho tức NGỘ được Ngài. Bí Tích Thánh Thể là một phương thế vô cùng tuyệt diệu  và có thể nói theo ngôn ngữ Thiền là Pháp Môn Vô Tiền Khoáng Hậu xưa nay chưa từng có để Chúa Giê Su có thể…ở lại trong tâm hồn người tín hữu ! Chúa Giê Su luôn muốn ở lại với chúng ta: “ Các con hãy lưu lại trong Thầy và Thầy lưu lại trong các con” ( Ga 15, 4 ).

Chúa…ở trong chúng ta và chúng ta…ở trong Chúa qua Bí Tích Thánh Thể không hệ tại ở những hình thức bên ngoài  như Rước Lễ hay Chầu Thánh Thể. Những hình thức bên ngoài không nói lên điều gì cả nếu nó không phát xuất từ bên trong tức từ nơi tư tưởng. Bởi vậy  giáo hội mới có Kinh  Chịu Lễ Thiêng  do thánh Alphongse De Liugori soạn thảo dành cho những ai không có điều kiện đến  với Thánh Lễ…Thánh Prancis De Sales  có thể nói đã dùng toàn bộ cuộc sống của ngài để thực hiện Rước Lễ Thiêng Liêng lâu nhất là 15 phút một lần ngoại trừ những lúc ăn và ngủ…Thánh Maximilien Kolbe cũng vậy, ngay từ hồi còn là sinh viên, cũng thầm Rước Lễ Thiêng Liêng mỗi khi có thể  kể cả những khi thức giấc lúc nửa đêm…

Yêu mến Chúa Giê Su để được Ngài…tỏ mình cho. Đây là cốt yếu đời sống đạo của người Công Giáo. Thế nhưng làm sao có được lòng yêu mến ấy nếu không có Đức Maria với sứ mạng cao cả  là cưu mang, sinh hạ Chúa Giê Su trong tâm hồn các tín hữu ? Thánh Leo cả đã nói về việc sinh hạ  thiêng liêng ấy như sau: “ Cùng một năng lực của Đấng Chí Cao cùng một tác động của Chúa Thánh Thần đã làm cho Maria  sinh ra Đấng Cứu Chuộc cũng làm cho người tín hữu sinh ra trong nước tái sinh” ( M.V Bernadot O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Từ khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, mỗi người Công Giáo  đã được Đức Mẹ cưu mang, sinh hạ  Chúa Giê Su trong linh hồn như một hạt giống ( Chủng Tử ) tiềm năng. Hạt giống  Giê Su mỏng manh yếu ớt  ấy  rất cần được Đức Mẹ chăm sóc giữ gìn bằng cách nhắc nhở  ta luôn nhớ đến Ngài dù những khi gặp phải gian nan, thử thách. Suy cho cùng dù chịu khổ đau hay nghèo khổ đến đâu mà cuối cùng được chết trong Ơn Nghĩa Chúa thì không có hạnh phúc nào  có thể sánh bằng: “ Trong ngày anh em đã  được chịu Phép Cắt Bì  không phải  phép cắt bì do tay người phàm nhưng là Phép Cắt Bì  của Đức Ky Tô có sức lột bỏ con người  tội lỗi  của anh em. Anh em đã cùng chết  với Đức Ky Tô  khi chĩu Phép Rửa  lại cũng sẽ được sống lại với Ngài vì  tin vào quyền năng  của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Ngài  sống lại từ cõi chết” ( Cl 2, 11 -12 )./.

 

Phùng  Văn  Hóa

( Viết xong tại Trà Cổ – Tuần Thánh 2026 ).

Chia sẻ Bài này:

Related posts