Đối với những người trong chúng ta đã cử hành Lễ Canh thức Phục Sinh, với chín bài đọc và tám bài thánh vịnh, các nghi lễ về lửa, ánh sáng và nước Phục Sinh, các bí tích rửa tội và Thánh Thể, kéo dài đến tận khuya, thì việc “phục sinh” vào sáng Phục Sinh đôi khi lại không mấy huy hoàng. Thậm chí, sáng Phục Sinh dường như lại thiếu đi sự hào hứng cần thiết.
LỄ PHỤC SINH ĐẦU TIÊN
Trong nỗ lực duy trì cảm xúc vui mừng và vinh quang, thật hữu ích khi nhớ rằng các môn đệ cũng thức dậy vào sáng Phục Sinh với tâm trạng hoàn toàn không hề vinh quang chút nào. Nếu bạn hình dung ra nỗi đau buồn sâu sắc nhất mà bạn từng trải qua, kết hợp với cảm giác tội lỗi giày vò nhất, nỗi sợ hãi thắt ruột nhất và sự hoang mang tột cùng, thì bạn vẫn còn cách xa sự tan nát trong lòng các môn đệ sáng hôm đó: Chúa Giêsu đã bị đóng đinh trên thập tự giá tối hôm kia, và các môn đệ, ngoại trừ Gioan, thậm chí còn không có mặt vào phút cuối. Họ đã hoàn toàn phá sản.
Và giờ đây mặt trời đang mọc lên, báo hiệu một ngày mới, ngày đầu tiên trong số rất nhiều ngày dài, trống rỗng đang chờ đón họ. Thành Thánh vẫn đầy ắp khách hành hương; tuần lễ Bánh Không Men vẫn đang diễn ra. Nhưng cuộc sống của họ với tư cách là môn đệ của Đấng Mêsia đã kết thúc. Họ còn lý do gì để ở bên nhau, ngoài cảm giác mất mát chung? Tại sao họ lại phải ra khỏi giường, nếu không phải vì những giấc mơ của họ có lẽ cũng đau đớn như những suy nghĩ khi còn thức? “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao? Dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!” (Tv 22: 2).
Như thể tất cả những điều đó vẫn chưa đủ, giờ lại có thêm sự náo động chung quanh ngôi mộ, ngôi mộ bị niêm phong và canh gác bởi một đội lính. Những người phụ nữ nảy ra ý tưởng điên rồ rằng họ sẽ được phép vào mộ và xức dầu cho thi hài Chúa Giêsu. Họ đã chuẩn bị các loại hương liệu từ lúc mặt trời lặn ngày hôm qua. Việc đó nguy hiểm và vô ích, nhưng họ không chịu nghe lời khuyên. Dù sao thì, dường như tất cả đều chẳng đi đến đâu; họ lại quay lại đây khá sớm.
Nhưng bà Maria Mađalêna đang nói gì vậy? “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 2). Người ta là ai? Chắc chắn là những kẻ thấp hèn, nhưng cũng rất quyền lực, nếu họ cấu kết với các thầy thượng tế và lính canh. Tại sao họ lại muốn lấy thi thể? Liệu đã quá muộn để ngăn cản họ không, bất kể ý định của họ là gì?
Và thế là cuộc đua đến mộ vào sáng Phục Sinh bắt đầu… Đến trưa, mọi người đều hoàn toàn hoang mang. Các phụ nữ nói rằng họ đã thấy Ngài sống lại: “Chúa Giêsu đón gặp các bà và nói: Chào chị em! Các bà tiến lại gần Ngài, ôm lấy chân, và bái lạy Ngài” (Mt 28: 9-10), nhưng Phêrô và Gioan không thấy gì ở mộ ngoại trừ những tấm vải liệm. Có lẽ tốt hơn hết là nên rời khỏi Giêrusalem và bỏ lại tất cả những giấc mơ tan vỡ này phía sau. Clêôpha nói rằng ông sẽ về nhà sau bữa trưa, và có lẽ ông ấy đúng. “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” (Lc 24: 21).
NHỮNG CỘT MỐC QUAN TRỌNG TRONG KINH NGHIỆM LỄ PHỤC SINH CỦA CHÚNG TA
Chúng ta không nhất thiết cảm thấy mình được sống lại cùng Chúa Kitô chỉ vì Ngài đã sống lại, và cảm xúc của chúng ta không ảnh hưởng đến sự thật theo bất cứ cách nào. Cảm xúc không phải là thước đo của đức tin. Hầu hết chúng ta sẽ không được chứng kiến một sự hiện ra nào để lay động chúng ta trong niềm vui của sự Phục Sinh, nhưng có một số cách khác để tiếp cận mầu nhiệm này, và chúng ta được mời gọi biến chúng thành những điểm tựa trong kinh nghiệm Phục Sinh của mình vào Lễ Phục Sinh này.
NGÔI MỘ TRỐNG
Thứ nhất là ngôi mộ trống. Phêrô nhìn thấy ngôi mộ trống và những tấm vải liệm, rồi về nhà trong sự bối rối, nhưng Gioan nhìn thấy và về nhà với niềm tin. Nếu ngôi mộ và những tấm vải liệm là dấu chỉ cho Gioan, đó là vì Gioan nhận thức rõ ràng về tình trạng của ngôi mộ trước đây. Ông đã ở đó khi thi thể tan nát của Chúa Giêsu bị cột chặt lại và đặt ở đúng vị trí đó. Giờ đây, Chúa Giêsu đã vượt qua cái chết để đến với sự sống mà không hề làm xáo trộn vị trí của những tấm vải liệm bao phủ Ngài.
Trong cuộc đời mỗi người đều có những khoảng trống và những ngôi mộ mà chúng ta biết quá rõ. Những điều đã kết thúc trong sự đổ vỡ, và dù chúng ta có ước muốn thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thể thay đổi chúng được nữa. Chúng nằm trong bụi đất của cái chết, có lẽ bị mọi người lãng quên ngoại trừ chính chúng ta, và một thứ gì đó trong cuộc sống của chúng ta với Chúa cũng bị buộc chặt lại và chôn cất trong những ngôi mộ đó. Nhưng rồi, một khi chúng ta đã thực sự từ bỏ những đổ vỡ đó, chúng ta lại tìm đến “xem chỗ Ngài đã nằm” (Mt 28: 6), và trước sự ngạc nhiên của chúng ta, ngôi mộ vẫn còn đó và những tấm vải liệm vẫn còn, nhưng “Ngài không ở đây nữa, vì Ngài đã sống lại như lời Ngài đã phán” (Mt 28 :6) và, cùng với Ngài, tâm hồn chúng ta đã chuyển từ sự chết sang sự sống.
LỜI CHÚA
Bí tích mạnh mẽ thứ hai của sự Phục Sinh là Lời hằng sống của Thiên Chúa. Khi Chúa Phục Sinh cùng đi với Clêôpha và các môn đệ khác trên đường đến Emmau, và sau đó vào buổi tối cùng với các tông đồ, Ngài “giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24: 27). Trong ánh sáng của Môsê, các tiên tri và các Thánh vịnh (Lc 24: 44), sự kiện Phục Sinh nói với họ từ bên trong bằng ngôn ngữ của tổ phụ họ: “Dọc đường, khi Ngài nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24: 32).
Khi lắng nghe và suy ngẫm Lời Chúa, dù là trong thầm lặng tại nhà, trong những cuộc trò chuyện riêng tư hay trong các buổi cử hành phụng vụ cộng đoàn, Chúa Kitô Phục Sinh luôn hiện diện giữa chúng ta, mở lòng chúng ta để hiểu biết. “Vậy, khi Ngài từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Ngài đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói” (Ga 2: 22).
VIỆC BẺ BÁNH
Tuy nhiên, đối với các môn đệ trên đường đến Emmau, phải cần đến một bí tích Phục Sinh khác nữa mới giúp họ cuối cùng nhận ra Đấng Phục Sinh đang ở giữa họ: Bí tích Thánh Thể. Chính khi Ngài “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra, và trao cho họ” (Lc 24: 30) thì họ mới đột nhiên nhận ra Ngài. Không rõ đây có phải là một bữa ăn Thánh Thể hay không. Nhưng ý nghĩa biểu tượng thì không thể nhầm lẫn.
Theo lời bất hủ của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Những ai được nuôi dưỡng bằng Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể không cần phải chờ đến đời sau để nhận được sự sống đời đời: họ đã có được điều đó ngay trên trần gian, như là hoa trái đầu mùa của một sự viên mãn trong tương lai sẽ bao trùm toàn bộ con người. Vì trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng nhận được bảo chứng về sự phục sinh thân xác của chúng ta vào cuối cùng của thế giới: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sự sống đời đời, và Ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6: 54). Bảo chứng về sự phục sinh trong tương lai này đến từ thực tại rằng thịt của Con Người, được ban cho chúng ta làm thức ăn, chính là thân thể của Ngài trong trạng thái vinh hiển sau khi phục sinh. Với Bí tích Thánh Thể, chúng ta như thể tiêu hóa “bí quyết” của sự phục sinh” (Ecclesia de Eucharistia, 18)
TỈNH THỨC TRƯỚC SỰ PHỤC SINH
Ngôi mộ trống, lời Chúa và việc bẻ bánh là ba nơi rõ ràng mà sự Phục Sinh đến với chúng ta nếu chúng ta cho phép điều đó xảy ra. Còn nhiều nơi khác nữa. Đối với Maria Mađalêna, đó là việc nghe Chúa gọi tên bà (Ga 20: 16). Đối với hầu hết các tông đồ, đó là lời chứng của Phêrô khơi dậy đức tin của họ: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon!” (Lc 24: 34).
Nhưng có một vị tông đồ dường như không bị ảnh hưởng bởi tất cả những điều này và vẫn kiên trì giữ vững niềm tin của mình suốt tuần lễ Phục Sinh: đó là Tôma. Ông là người duy nhất không có mặt khi Chúa Giêsu hiện ra vào tối Phục Sinh, và suốt cả tuần lễ, ông vẫn không tin , đứng ngoài niềm vui Phục Sinh đang bao trùm những người khác. Đối với Tôma, chỉ có việc chạm vào vết thương của Chúa Giêsu mới thuyết phục được ông về sự Phục Sinh: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng có tin” (Ga 20: 25).
Một cách tuyệt vời, trái tim bị thương của Chúa Giêsu là khởi đầu và là kết thúc của kinh nghiệm phục sinh, của Tôma và của chúng ta. Không giống như những vết thương ở tay và chân Chúa Giêsu, vốn bị gây ra trong đau đớn trên Thập tự giá và giờ đây đã được biến đổi trong vinh quang, thì vết thương ở cạnh sườn của Ngài là điều Ngài chỉ cảm nghiệm trong vinh quang Phục sinh, bởi vì nó bị gây ra sau khi Ngài đã chết: “Khi đến gần Chúa Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Ngài. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài” (Ga 19: 33-34).
Ngay cả khi sự Phục Sinh vượt xa mọi điều chúng ta có thể tưởng tượng, thì hình ảnh một trái tim bị thương tích nặng nề nhưng vẫn còn đập lại là một hình ảnh đầy sức thuyết phục. Hình ảnh đó giúp chúng ta hình dung phần nào kinh nghiệm gần gũi đầu tiên về nhân tính thánh thiện của Chúa Kitô sống lại từ cõi chết và cho chúng ta biết chúng ta có thể phục sinh hằng ngày như thế nào. Tóm lại, sự phục sinh, của Chúa Kitô và của chúng ta, là một kinh nghiệm “thấy một Con Chiên, trông như thể đã bị giết, đứng ở giữa ngai và bốn Con Vật, giữa các vị Kỳ Mục” (Khải Huyền 5: 6). (Arise, 2025, tr. 123)
Những vết thương trong lòng chúng ta không biến mất. Nhưng trái ngược với suy nghĩ của chúng ta, chúng không phải là kinh nghiệm về cái chết; chúng là kinh nghiệm về sự phục sinh. Hy sinh mạng sống vì bạn bè cũng có nghĩa là sống lại, tiếp tục yêu thương trong và qua những vết thương. “Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết” (1 Ga 3: 14).
Laura Bedingfeld, https://catholicexchange.com
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ