Có hai sự kiện khiến đức tin của Đạo Công Giáo bị ảnh hưởng nghiêm trọng và cho đến nay vẫn chưa thể phục hồi. Một là vụ án của nhà thiên văn Galilleo, hai là Thuyết Tiến Hóa của Darwin. Cả hai sự kiện ấy không những gây chấn động mà còn khiến Giáo Hội Công Giáo phải thay đổi lập trường cố hữu của mình, trước thì kịch liệt chống đối nhưng sau lại thỏa hiệp với Khoa Học.
Galileo ( 1564 – 1642 ) dưới thời ĐGH Urban VIII đã bị Tòa Án Dị Giáo điều tra, kết án vì đã ủng hộ Thuyết Nhật Tâm của Corpenic. Sở dĩ Galileo bị kết án bởi vì Giáo Hội thời đó rất mực tin tưởng vào Thuyết Địa Tâm được cả Ploleme cũng như Aristote đồng thuận rằng Mặt Trời, Mặt Trăng và các ngôi sao có thể quan sát được bằng mắt thường đều xoay quanh Trái Đất. Có thể nói, việc kết tội Galileo là một… vết nhơ của GHCG thời đó, chính vì vậy, vào năm 1983 tức sau gần 400 năm, đức giáo hoàng Gioan Phao Lô II đã phải lên tiếng xin lỗi và nhìn nhận sai lầm: “ Ngay từ năm 1983, ngài đã nói với các học giả tại Vatican: Chúng tôi chắc chắn thừa nhận rằng Galileo đã phải chịu đau khổ dưới bàn tay của các tổ chức Giáo Hội…
…Tuy nhiên mãi đến năm 1992 và khi công việc của Ủy Ban đã hoàn tất, đức giáo hoàng mới đưa ra quyết định về vấn đề này. Trong một bài phát biểu dài trước các thành viên của Viện Hàn Lâm Khoa Học Giáo Hoàng, ngài đã xem xét lại những sai lầm trong phiên tòa dẫn đến việc kết án Galileo Galile’. Đức Gioan Phao Lô II nhớ lại rằng khám phá về Thuyết Nhật Tâm ( Heliocentrisme) của Galileo đã thách thức quan điểm Địa Tâm ( Ge’ocentrisme ) dược chấp nhận rộng rãi vào thời đó” ( Nguồn: GP Vĩnh Long – 24/8/2021 – Lịch Sử GHCG ).
Sự kiện thứ hai là Thuyết Tiến Hóa của Charle Darwin ( 1809 – 1882 ). Thuyết này được công bố vào năm 1859 khẳng định rằng các loài sinh vật đã tiến hóa từ một tổ tiên chung qua các cơ chế chọn lọc tự nhiên. Những cá thể có đặc điểm thích nghi tốt nhất với môi trường sẽ có khả năng sống sót và sinh sản nhiều hơn, ngược lại sẽ bị đào thải…
Thuyết Tiến Hóa ra đời sau khi Darwin xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng “Nguồn Gốc Các Loài” (1859) và “ Nguồn Gốc Con Người và Sự Đào Thải Sinh Dục”(1871) trình bày một quan điểm hoàn toàn đối nghịch với Giáo Lý Công Giáo. Sự đối nghịch ấy diễn ra cả trong GHCG lẫn Tin Lành đưa đến các vụ xét xử công khai và quyết liệt tại Tòa Án. Vụ xét xử John Scopes còn gọi là Vụ Án Con Khỉ ( Monkey Trial ) năm 1925. Vụ xử Susan Epperson tại bang Arkansas năm 1966. Đặc biệt tại Mỹ, với đa số là Tin Lành, luật cấm Thuyết Tiến Hóa đã kéo dài hơn 40 năm tại Tennesse và việc giảng dạy về Tiến Hóa bị cấm trong 05 Tiểu Bang khác cho đến khi Tòa Án Tối Cao phán quyết lệnh cấm ấy là vi hiến…
Nhưng rồi, cuối cùng thì Thuyết Tiến Hóa vẫn được GHCG công nhận, trong một Thông Điệp tháng 8/1950, đức giáo hoàng Pio XII tuyên bố giáo dân được học, miễn sao Thuyết này chỉ tìm căn nguyên thể xác con người trong một căn cơ tiền tại ( ? ).
Thuyết Tiến Hóa đã được Giáo Hội công nhận dù rằng với tất cả sự dè dặt. Thế nhưng vẫn còn vấn đề nan giải chưa thể giải quyết đó là về thời gian…Tạo Dựng ? Quan niệm của GHCG cho rằng thời gian ấy chỉ mới từ khoảng 7000 ( Bảy Ngàn ) năm nay thôi. Bởi vậy, vào năm 1744, trong quyển Lịch Sử Vạn Vật, Buffon chủ trương Trái Đất đã có khoảng 70.000 năm, thế mà đã bị coi là một sự xúc phạm lớn lao và tác phẩm bị cấm đoán…
…Khi Darwin chết, người ta vẫn còn dạy rằng vũ trụ đã được tạo dựng 4983 năm trước Công Nguyên và Cuốn Tự Điển LaRousse xuất bản năm 1882 ghi rằng đó là niên kỷ duy nhất được chấp nhận trong các trường học” ( Nguồn: BS Nguyễn Văn Thọ – Lecomte Du Nouy và Học Thuyết Viễn Đích ).
Qua dẫn chứng trên đây cho thấy, Thuyết Tiến Hóa hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Giáo Hội về vấn đề Tạo Dựng. Tuy nhiên, để giải quyết mâu thuẫn ấy, Thần Học không còn cách nào khác, đã đưa ra quan điểm về tính chất quan phòng của Thiên Chúa như sau:
“ Sáng Tạo và Tiến Hóa là hai khía cạnh không thể tách rời nhau trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa. Moltmann sẽ cho ta thấy hai chiều kích này: Quan niệm Thiên Chúa trong thế giới thụ tạo bằng ý niệm về sáng tạo trong Thần Khí cho phép chúng ta hiểu sáng tạo và tiến hóa không còn là hai khái niệm xung khắc để diễn tả hiện thực nữa vì chúng ta có thể kết hợp chúng thành một mối để bổ túc cho nhau: Có một cuộc sáng tạo tiến hóa của thế giới thụ tạo, bởi vì cuộc sáng thế hướng về mục đích là Vương Quốc vinh quang và vì thế vượt qua chính mình trong thời gian . Khái niệm Tiến Hóa được hiểu như khái niệm căn bản diễn tả Thần Khí sáng tạo của Thiên Chúa hoạt động như thế nào trong thế giới” ( Nguồn: Vietcatholic – FX Trần Kim Ngọc O.P – 22/10/2010. Thuyết Tiến Hóa Trong Thần Học Ki Tô Giáo )
Cuộc Sáng Tạo hướng về Vương Quốc vinh quang và Vương Quốc ấy chính là Nước Trời Tục Hóa của Thần Học còn có tên là Triều Đại Thiên Chúa. Với cái gọi là Triều Đại này thì Đức Tin trở nên hoàn toàn vô nghĩa và vì thế quan niệm về Đạo Đức cũng đương nhiên thay đổi để trở thành thứ Duy Lợi Chủ Nghĩa. Chủ nghĩa này do David Hume và nhà Kinh Tế Học Jeremy Bentham sáng lập. Nguyên tắc nền tảng của họ là:“Hãy kiến tạo hạnh phúc cho nhiều người nhất và tránh gây bất hạnh cho ít người nhất”.
Chủ trương Hạnh Phúc Duy Lợi nhưng lại chẳng hiểu chi về Hạnh Phúc Đích Thực là gì, thế nên từ đó đã gây nên đau thương, khốn khổ cho biết bao con người. Bằng chứng là những chế độ CS trên khắp thế giới, lấy phương châm hành động: “ Cứu cánh chứng minh cho phương tiện” để ra sức đàn áp, giết hại những người được coi là bất lợi cho chủ trương của họ !.
Cũng vì không hiểu Hạnh Phúc Đích Thực là gì thế nên Đạo Công Giáo đã bị các thể chế độc tài, những chế độ phong kiến xưa và nay đàn áp, bách hại như chưa từng thấy. Cuộc bách hại diễn ra gần 300 năm dưới các triều hoàng đế Ro Ma thật khủng khiếp không bút mực nào tả xiết. Còn tại Việt Nam, dưới thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Phong Trào Văn Thân cũng vậy, đều diễn ra dưới chiêu bài “ Bình Tây Sát Tả”.
Từ những thuở xa xưa ấy cho đến ngày nay, Đạo Công Giáo vẫn bị gán ghép là…đạo theo Tây, đạo do thực dân Pháp mang lại và nếu có thể thì phải diệt trừ ?. Vào thời vua Minh Mạng đã có Chỉ Dụ Cấm Đạo với những lý lẽ như sau:“ Cái Thuyết Thiên Đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa, không kính Thần Minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với Chánh Đạo. Những việc trái với luân lý, bại hoại phong hoa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết” ( Nguồn: Trần Hoàng – Nghiên Cứu Lịch Sử Nhà Nguyễn ).
Lý do Cấm Đạo ở đây nhắm vào Thuyết Thiên Đường của Người Công Giáo, cho đó chỉ là… chuyện hoang đường. Tuy nhiên, điều khó hiểu, hơn nữa, không thể hiểu, tại sao những con người khốn khổ ấy lại Tin và dám chết cách vô cùng đau đớn để bảo vệ đức tin ấy ? Thật vậy, lịch sử GHCG cho thấy sự can trường đáng nể phục của biết bao Chứng Nhân Đức Tin dám liều bỏ mạng sống chỉ để không bước qua Cây Thập Tự đặt ở dưới nền đất. Cái hành vi Bước Qua ấy, xem ra quá ư dễ dàng, mau chóng, nhưng đó lại là…cái bước chân vào Cõi Phúc Vĩnh Hằng !!!
Nếu bảo “ Thuyết Thiên Đường” chỉ là…hoang đường, vậy tại sao lại có những con người dám liều bỏ cả mạng sống mình để làm chứng cho niềm tin như vậy ? Thực tế cho thấy không chỉ có những con người dân quê, nghèo khó, ít học dám chết để làm chứng nhân đức tin mà còn có cả những con người tài ba, xuất chúng ngay tại đất nước Việt Nam này cũng chẳng phải ít. Xin đan cử ra đây hai trường hợp, một của cha chính Gioan La San Nguyễn Văn Vinh, hai là chị Louis Bennet, nữ Tiếp Viên Hàng Không xinh đẹp:
Câu chuyện của cha chính Gioan La San Nguyễn Chính Vinh.
Cha chính Vinh ( 1912 – 1971 ) nguyên là tổng đại diện giáo phận Há Nội (1954 – 1958 ). Khi còn là chủng sinh TCV Hoàng Nguyên, năm 1930 ngài được gửi sang Pháp du học và thụ phong linh mục ( 1940 ) Sau đó, tiếp tục học tại đại học Sorbonne, đậu Cử Nhân Văn Chương, Triết Học, tốt nghiệp Khoa Sáng Tác, Hòa Âm tại Nhạc Viện Quốc Gia Pháp ( 1944 ).
Năm 1947, ngài quyết định về nước, được bổ nhiệm làm cha xứ nhà thờ lớn Hà Nội kiêm giáo sư các môn Thánh Kinh, Âm Nhạc, Triết Học, Pháp, Anh Ngữ tại chủng viện Pio XII và trường trung học Chu Văn An.
Năm 1954, được đức cha Trịnh Như Khuê cho phép đưa các chủng sinh đi Nam nhưng ngài xin ở lại để sống, chết với Giáo Phận dù biết hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nguy hiểm khi ấy !
Noel năm 1958, vì không muốn nhà nước tiếp tục việc trang trí Lễ Giáng Sinh để tuyên truyền tự do tôn giáo như đã lợi dụng năm 1957 nên ngài cùng với cha Giu Se Maria Trịnh Văn Căn chính xứ ra sức cản ngăn. Sau đó cả hai cùng bị bắt và phải hầu tòa. Riêng cha Vinh bị 18 tháng tù nhưng vì tính khảng khái, ngài tiếp tục bị giam tại nhà giam Cổng Trời khét tiếng tại Hà Giang và chết sau 13 năm tù ngục !
Trong nơi tù ngục, thường trực bị đói, rét hành hạ ấy, cha chính Vinh bị gán cho cái tên Thằng Khùng, còn ngài tự nhận mình là Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá. Ở tù, thường trực bị đói, rét hành hạ như vậy nhưng cha chính Vinh khi có điều kiện được tha, lại thẳng thừng từ chối:
“ Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: Đảng và Chính Phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh ( CT/UBLLCG ). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ cùng với tôi. Ngài khẳng khái đáp: Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh, tôi có đường lối của tôi…
…Vì không khuất phục được cha Vinh, nên bản án 18 tháng tù giam không qua một thủ tục xét xử nào đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim. Năm 1971, khi ngài từ trần, không ai được biết. Một năm sau, chính quyền mới báo cho đức cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung “ Ông Vinh đã chết, không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh” ( Nguồn: TGP Hà Nội ).
Câu chuyện của Nữ Tiếp Viên Hàng Không.
Trong chuyến phi cơ trở về Mỹ sau khi tham dự Công Đồng Vatican II năm 1965, đức TGM Fulton Sheen đã có cuộc gặp gỡ lạ lùng với một cô Tiếp Viên Hàng Không hết sức xinh đẹp, duyên dáng và qua cuộc gặp, có thể ví như mối duyên kỳ ngộ ấy đã biến cô gái trẻ đẹp này từ bỏ thế gian để sống Cuộc Đời Tu trì, phục vụ người phong cùi tại Việt Nam !
Trong chuyến bay hôm ấy, cô tiếp viên xinh đẹp này rất bực bội và tỏ ra mất tự nhiên khi có người đàn ông cứ nhìn mình chăm chăm. Không những thế, người này còn chờ cho mọi hành khách xuống hết, dường như có ý đợi rồi ghé sát vào tai cô nói thầm thì câu gì đó…
…Càng đáng bất bình hơn khi đó cô được biết người đàn ông đó chính là đức cha Fulton Sheen, TGM thành New York, một người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức, ngài là một giám mục tông đồ lừng danh Nước Mỹ. Thật là quái gở không thể tưởng tượng. Một người xem ra…thiếu tư cách ấy lại là con người thành công của sự nổi tiếng sao ? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách, coi khinh vị giám mục già kia !
Câu chuyện không kết thúc với chuyến bay ngày ấy, bởi một thời gian sau, chính cô gái này lại đến gõ cửa phòng của đức cha Fulton Sheen: “ Cô gái lên tiếng chào đức cha và hỏi: Thưa đức cha, đức cha có nhớ con không ? Đức cha Sheen từ tốn trả lời: Cha nhớ chứ, con chính là cô gái Tiếp Viên Hàng Không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ CĐ Vatican II. Cô gái tiếp: Vậy, đức cha có nhớ đức cha đã nói gì với con không ? Đức cha trả lời: Nhớ ! Cha nhớ, cha đã khen con đẹp lắm và cha hỏi con rằng: Có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt trần kia chưa ? Cô gái sung sướng nói tiếp: Kính thưa đức cha, điều đức cha nói đã khiến con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp đức cha, vậy theo đức cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa ?…
…Hơi bất ngờ, đức cha Sheen lặng người suy nghĩ một chút, sau đó ngài dẫn cô gái tới trước Tấm Bản Đồ Thế Giới treo trên tường và vẫn giọng nói ôn tồn, đức cha hỏi: Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là Trại Phong Di Linh chưa ? Cô gái ngước đôi mắt xanh như có ý dọ hỏi: Thưa đức cha, có lần con đã đọc được trên báo, con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về Trại Cùi Di Linh…
…Đức cha dõi mắt nhìn vào khoảng không xa xăm trước mặt, rồi nói: Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói, đức giám mục GP Sài Gòn tên là Gioan Cassaigne Sanh đã từ chức giám mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em Trại Phong Di Linh, con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến Trại Phong Di Linh gặp đức giám mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em phong khoảng 06 tháng không ? Quá bất ngờ trước lời đề nghị của đức giám mục New York, cô gái không thốt nên lời, lặng lẽ cúi chào đức cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm cô !”
Chuyến gặp gỡ giữa đức cha Fulton Sheen và cô Tiếp Viên Hàng Không ngày ấy, chắc chắn không phải là sự tình cờ, ngẫu nhiên. Theo tôi, đây chính là Sự Quan Phòng của Thiên Chúa, dẫu vậy, với bất cứ sự quan phòng nào thì cũng cần có sự đáp ứng của con người. Cô Tiếp Viên Hàng Không đẹp tuyệt trần ấy đã nghe và đáp lại Tiếng Chúa qua đức cha Fulton Sheen ( Vừa đây, ngày 24/9/2026 đã được phong Chân Phước ) để đến phục vụ tại Trại Phong Di Linh và sau đó đã hiến mình cho cuộc sống Tu Trì:
“ Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý tưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người Nữ Tu đã từng làm Tiếp Viên Hàng Không ấy, đẹp quá. Chị đẹp không chỉ là một sắc đẹp thân xác mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy không ai khác hơn đó chính là Louis Bannet. Chị đã tình nguyện ở lại tại Trại Phong Di Linh suốt đời, nhưng biến cố 1975 gây biến động khiến chị không thể thực hiện được ý nguyện ấy. Sau mười năm phục vụ người phong, chị đã phải lên đường trở về Mỹ. Một thời gian sau, chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti…
…Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, chị Louis Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của anh chị em phong tại Tahiti và trong tình liên đới của toàn thể bệnh nhân phong Việt Nam cũng như khắp nơi trên thế giới.” ( Nguồn TGP Sài Gòn ).
Cả hai con người này, cha chính Gioan La San Nguyễn Văn Vinh và Nữ Tu Louis Bannet đều xứng đáng là môn đệ Chúa Ki Tô, dấn thân trên Con Đường Phục Vụ: “ Ai muốn theo Ta thì hãy từ bỏ mình, hàng ngày vác thập giá mình mà theo. Vì hễ ai muốn mạng sống mình thì phải mất. Còn ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì lại được. Vì chưng, được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì ?” ( Lc 9, 23 -25 ).
Muốn cứu lại mất, bỏ đi lại được, nghịch lý ấy thực không dễ để hiểu nhưng còn khó gấp bội để thực hành. Tuy vậy, đối với các môn đệ Chúa Giê Su Ki Tô, điều ấy lại có thể, miễn sao có được đức tin vững vàng vào lời hứa của Chúa: Ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được. Chính cái lòng tin ấy khiến ta vượt qua được những nỗi sợ khổ, sợ chết hầu bước vào Cõi Sống Đời Đời. Ngược lại, Khoa Học chẳng những chẳng giúp ích gì cho việc giải quyết những nỗi hãi sợ ấy mà còn làm cho nó thêm trầm trọng !
Tại sao Đức Tin có thể khiến con người vượt qua những nỗi sợ, còn Khoa Học thì không ? Đó là vì Đức Tin, cụ thể là tin vào Đức Ki Tô khiến ta Bỏ được Mình tức bỏ đi cái chấp sâu, dày cho cái xác thân nặng vài chục kí lô này là mình. Bao lâu còn chấp cho xác thân hữu hình, hữu hoại này là mình thì còn gây tội, còn tham lam, ganh ghét, đố kỵ mà một khi đã…gây tội thì sao thoát được khổ đây ?
Trong tính chất sâu xa, một khi đã vương mang vào Tội Nguyên Tổ là tội phân biệt thiện, ác ( St 2, 16 -17 ).thì con người không cách chi tránh khỏi sự phân biệt, chấp trước, đây là Ta ( Ngã ) kia là Người, hay nói theo ngôn ngữ Nhà Phật là chấp có bốn thứ tướng trạng ( Nhân – Ngã – Thọ Giả – Chúng Sinh ). Bốn cái Chấp ấy tóm lại là chấp cho mọi sự, mọi vật trên cõi thế gian này đều…Thật Có. Tuy nhiên, chính Khoa Vật Lý Lượng Tử hiện nay đã nhìn nhận chẳng có cái chi Thật Có, tất cả chỉ là năng lượng !
Khoa Vật Lý phân ra hai trường phái, một là Vật Lý Cổ Điển hai là Vật Lý Hiện Đại. Vật Lý Cổ Điển do Newton xướng xuất nhìn nhận Nguyên Tử là “Vật” do Thiên Chúa tác tạo: “Tôi cho rằng có lẽ mới đầu, Chúa tạo vật chất bằng những hạt cứng chắc, dày đặc, không thể xuyên qua, di động, với dạng hình, với kích thước, với tính chất và tương quan nhất định với không gian, phù hợp nhất với mục đích mà Ngài muốn tạo ra và những hạt đơn giản này là thể rắn, cứng hơn bất kỳ vật thể xốp nào khác, chúng cứng đến độ không bao giờ hao mòn, không vỡ. Không có một lực nào có thể chia cắt nó, vật mà trong ngày đầu tiên Chúa đã sáng tạo” ( Nguồn Fritjop Capra – Đạo Của Vật Lý ).
Với Khoa Vật Lý Cổ Điển thì Nguyên Tử là “ Vật” rắn chác, không thể phân chia, còn trong Vật Lý Hiện Đại thì trái lại: “Thí nghiệm Rutherford cho thấy, nguyên tử không hề là những hạt nhỏ không thể phân chia mà chỉ là không gian trống không, trong đó những hạt li ti vận động, rồi bây giờ Thuyết Lượng Tử lại còn cho rằng, bản thân những hạt đó cũng chẳng cứng chắc gì cả theo nghĩa của vật lý cổ điển. Những đơn vị hạ nguyên tử là một cấu trúc trừu tượng với thuộc tính hai mặt. Tùy theo chúng ta nhìn nó thế nào mà chúng xuất hiện khi là hạt, khi khác là sóng, ánh sáng cũng xuất hiện hai mặt, khi là sóng điện từ, khi thì xuất hiện như hạt” ( Fritjop Capra – SĐD ).
Không có cái gì rắn chắc, không thể phân chia dù đó có là Nguyên Tử. Phát giác của Vật Lý Lượng Tử này cho thấy tính chất Vô Ngã ( Vô Tự Tính ) của muôn vật. Mặt khác, tính chất Vô Ngã ấy lại tùy vào cái nhìn (Tâm) của người quan sát ( Thí Nghiệm ) để cho thấy khi thì là Hạt khi thì là Sóng. Phát giác này nói lên tính chất Duyên Sinh, Duyên Khởi của vạn vật “ Do cái này có thì cái kia có. Do cái này không thì cái kia không. Do cái này sanh thì cái kia sanh. Do cái này diệt thì cái kia diệt” ( Thử hữu cố bỉ hữu. Thử vô cố bỉ vô. Thử sanh cố bỉ sanh, thử diệt cố bỉ diệt ).
Nhận định tính chất Duyên Sinh, Vô Ngã của vạn vật như thế để cho thấy có sự khác biệt sâu xa giữa Khoa Học và Đức Tin và ngược lại. Sự khác biệt ấy đã được thể hiện qua Kinh Thánh và cả minh triết Đông Phương cũng nói không khác thế này: “Vi Học nhật ích. Vi Đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn. Dĩ chí ư vô vi” ( Theo học, ngày càng thêm. Theo Đạo, ngày càng bớt, bớt rồi lại bớt, đến mức vô vi – Lão Tử ĐĐK chương 48 ).
Theo “ Học” ở đây là cái học của sự tiếp thu kiến thức, có thật nhiều kiến thức được gọi là…Bác Học và dù cho có nhiều kiến thức ( triết học, thần học) đến đâu thì đó cũng chỉ là cái học vay mượn từ bên ngoài qua sách vở hoặc thầy dạy. Cái Học ấy chẳng những không đem lại ơn ích cho phần hồn, trái lại còn phá hủy đức tin chân thật, bởi vậy Chúa Giê Su trong việc tiếp nhận Chân Lý, Ngài ngỏ lời khen ngợi những kẻ có lòng đơn sơ, chân thật thế này: “ Lạy Cha là Chúa Tể Trời Đất, con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, thông sáng mà mở ra cho những kẻ bé mọn” ( Mt 11, 25 ).
Tại sao Chúa Giê Su lại nói Chân Lý chỉ mở ra cho những kẻ bé mọn, còn…đóng lại với những con người khôn ngoan thông sáng ? Bởi vì Chân Lý ấy cần được hiểu như là “Đấng Cha Nội Tại” trong mỗi người ( Deus Abconsditus ). Cũng chính với Đấng Cha Nội Tại ấy, minh triết Đông Phương nói…theo Đạo, ngày càng bớt, bớt mãi cho đến vô vi…Bớt ở đây có nghĩa là “ bỏ” và cái việc bỏ đi ấy cần phải làm mãi, làm hoài cho đến chỗ… không còn gì ! Việc này tưởng đơn giản, nhưng trong thực hành, đó lại là điều khó trên hết mọi sự khó. Tại sao vậy ? Bởi vì việc Bỏ Đi ấy chính là bỏ đi Ý Riêng để vâng theo Thánh Ý Cha. Nên nhớ, để thực hiện…việc khó ấy Chúa Giê Su đã phải hiến cả mạng sống mình. Trong Vườn Gietsimani, trước giờ khổ nạn kinh hoàng, Ngài quỳ xuống thốt lên lời cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu được, xin cất chén đắng này cho con, nhưng đừng theo ý con mà theo Ý Cha” ( Lc 22, 42 ).
Cái việc khó nhất trần đời ấy, tuy vậy lại trở thành dễ cho những kẻ có lòng tin và những kẻ ấy, nghịch lý thay lại là những con người tầm thường, kém cỏi trước mắt thế gian: “ Người khôn ngoan ở đâu ? Văn sĩ, triết gia ở đâu ? Bác sĩ, Luật sư ở đâu ? Thiên Chúa há chẳng đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian này ra ngu dại ư ? Vì tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng do sự khôn ngoan Thiên Chúa mà nhận biết Thiên Chúa, bởi đó cho nên Thiên Chúa đã vui lòng dùng sự ngu dại của đạo chúng ta rao giảng mà cứu rỗi những kẻ tin” ( 1Cr 1, 26 -28 ).
Thánh Phao Lô nói Thiên Chúa vui lòng dùng sự ngu dại của đạo chúng ta để cứu những kẻ có lòng tin. Cái “ Đạo” người đời cho là ngu, dại để rồi ra sức bách hại ấy chính là Con Đường Siêu Xuất Thế Gian mà Đức Ki Tô rao giảng: “ Con đã ban Đạo Cha cho họ mà thế gian ghen ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian vậy. Con chẳng xin Cha cất họ khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi sự ác. Họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ Nên Thánh. Đạo Cha là Sự Thật” ( Ga 17, 14 -19 ).
Lời tâm huyết của Chúa trước khi đi nộp mình chịu chết, không hề xin cho chúng ta có được bình an, hạnh phúc ở đời này nhưng để ta được Nên Thánh và việc Nên Thánh ấy, tất cả cũng không ngoài lòng cậy trông nơi Đức Ki Tô. Trong thư viết cho môn đệ mình là Timotheo, thánh Phao Lô nói: “ Cũng vì Tin Mừng đó, ta đã được lập làm người truyền đạo, sứ đồ và giáo sư. Lại cũng vì cớ ấy mà ta chịu những nỗi khổ đau này. Dẫu vậy, ta chẳng hổ thẹn đâu vì ta biết Đấng mà ta đã tin, cũng tin chắc rằng Ngài có thể gìn giữ sự ta đã phó thác cho Ngài cho đến ngày đó. Hãy lấy đức tin và sự thương yêu trong Đức Giê Su Ki Tô mà giữ lấy mẫu mực của Đạo Thuần Chánh mà con đã nghe ở nơi ta” ( 2Tm 1, 11 -14 )./.
Phùng Văn Hóa