VỀ MỐI TƯƠNG QUAN “TRIẾT HỌC VÀ ĐỨC TIN”

Trong phần Dẫn Nhập  bài diễn văn khai mạc học kỳ I niên học 2015 của phân khoa triết thuộc Đại Học Thánh Bonaventura ( Bogota – Colombia ). Lm Louis Augusto  Campos  Florez  có trích dẫn  thông điệp  của đức thánh cha Gioan Phao Lô II cùng với nhận định như sau:

“ Đức Tin và Lý Trí là như đôi cánh giúp trí tuệ con người vươn lên  để chiêm ngưỡng chân lý” Đó là lời mở đầu của thông  điệp Fides et Ratio của đức thánh cha Gioan Phao Lô II. Nhưng không phải mọi người đều đồng ý như vậy, bởi vì như thánh Phao Lô đã nói: Cái Sophia mà Thiên Chúa mạc khải  nơi thập giá của Đức Ki Ki Tô  thì trái ngược với Sophia của thế gian ( 1Cr 1, 27 ). Nietzsche có lý khi tuyên bố rằng  Tin Mừng của Ki Tô giáo là một nghịch lý, bởi vì làm đảo lộn tất cả những lý luận tự nhiên”  ( Nguồn Thời Sự Thần Học – Số 85 tháng 8/2019 – Triết Học Với Đức Tin: Những Bài Học Lịch Sử ).

Qua nhận định nêu trên, cho thấy  vấn đề “ Đức Tin và Lý Trí” một lần nữa đã được đặt ra  nhưng hầu như chẳng  sáng tỏ được gì ! Chẳng những thế, nó còn khiến  đức tin của Dân Chúa ngày càng suy kiệt, đến nỗi có thể  mất hẳn trong Ngày Chúa đến:“ Dẫu vậy, khi Con Người đến, há sẽ tìm được đức tin trên mặt đất này không ?” ( Lc 18, 8 ).

Đạo Công Giáo là  Đạo Đức Tin: “ Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi  và ở trong lòng ngươi  tức là đạo đức tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy, nếu ngươi  nhận  Đức Giê Su là Cứu Chúa và lòng ngươi tin  Thiên Chúa  đã khiến Ngài từ kẻ chết  sống lại  thì ngươi sẽ được cứu. Vì bởi  lấy lòng tin mà được nên công chính  và bởi lấy  miệng thừa nhận  mà được cứu rỗi” ( Rm 10, 8 -10 ).

Để được Cứu Rỗi, thánh Phao Lô cho biết, cần  hai điều kiện, một là đặt lòng tin nơi Chúa Giê Su Ki Tô và hai là thể hiện lòng tin ấy ra bên ngoài. Cả hai điều này sở dĩ  cần có bởi vì Thiên Chúa là Đấng Cha Hằng Hữu ở nơi mỗi người. Đấng Cha ấy theo minh triết đông phương gọi là…ĐẠO “ Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi thỉ. Hữu danh, vạn vật chi mẫu” ( Đạo mà ta  có thể  nói  được, không  còn  phải là Đạo thường. Danh mà ta  có thể gọi được, đó không phải là Danh thường. Không tên là gốc của trời đất. Có tên là mẹ của vạn vật – Lão Tử ĐĐK chương một ).

“Thường” ở đây là thường hằng, bất biến, không sinh, không diệt. Chính là với Đấng Cha  Thường Hằng, không thể nói, không thể gọi ấy chúng ta mới cần phải tin nhưng mặt khác,  đức tin ấy lại  chỉ có thể có được nhờ Đức Giê Su Ki Tô mà thôi. Trái lại, Thần Học đã thay chữ ĐẠO ( bản dịch của nhà văn Phan Khôi ) bằng… Lời Thiên Chúa: “ Lời Thiên Chúa  ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng. Lời đó chính là  lời chúng tôi rao giảng để khơi dậy đức tin . Nếu  miệng bạn  tuyên xưng Đức Giê Su là Chúa và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa  đã làm cho Người sống lại  từ cõi chết thì  bạn sẽ được cứu độ” ( Rm 10, 8 -10 – Bản dịch của Nhóm PDCGKPV ).

Đối với thần học thì “ Lời” ở đây chính là Logos theo quan niệm của triết Hy Lạp. Với quan niệm Logos như thế, khiên  việc giải nghĩa Kinh Thánh trở nên  rối rắm, không thể  phân biệt đâu là Thiên Chúa, đâu là Đức Ki Tô mà Thiên Chúa  cho sống lại ? Mặt khác, cũng vì vậy, đức tin vào Chúa Giê Su, Đấng Trung Gian Duy Nhất đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa:“Trong Ngài, chúng ta nhân đức tin đến Ngài được dạn dĩ  mà vào cùng Thiên Chúa” ( Ep 3, 12 ).

Chúng ta chỉ có thể vững lòng…“Vào” tức kết hợp được với Thiên Chúa, Đấng Cha Hằng Hữu ở nơi mình một  khi đặt lòng  tin nơi Đức Ki Tô  cùng với việc tìm kiếm:“ Ta lại nói cùng các ngươi. Hãy xin sẽ cho, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ sẽ được mở cho. Vì hễ ai xin sẽ được, ai tìm thì gặp, ai gõ sẽ được mở cho” ( Lc 11, 9 -10 ). Chúa nói: Ai xin sẽ cho, ai tìm sẽ gặp…Điều ấy có nghĩa, chỉ những ai xin mới cho, ai tìm mới gặp, ngược lại, không xin thì không thể được, không tìm, không kiếm thì không bao giờ có thể gặp…

Trong việc tìm kiếm này, chúng ta cần tìm, cần  kiếm điều chi nếu không phải là  Tìm Kiếm  Nước Thiên Chúa như lời truyền dạy của Đức Ki Tô: “ Trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người” ( Mt 6, 33 ). Với Nước Thiên Chúa thì nhất thiết cần  hết lòng tìm mới gặp, thế nhưng vấn đề ở chỗ là cần  tìm…Nước ấy ở đâu, nếu không biết  “Nước” ấy ở nơi đâu thì sao…tìm được ? Thần học chẳng những không biết mà còn hiểu sai lạc, bằng cách thay Nước Thiên Chúa mầu nhiệm bằng cái gọi là Triều Đại Thiên Chúa:

“ Cũng như mọi nước khác, Nước Thiên Chúa  không thể ở bên trong con người. Trái lại, đó là một thực tiễn trong đó, con người được kêu gọi đến sinh hoạt. Nghĩ cho thấu triệt câu nói “ Nước Chúa” câu nói mà Đức Giê Su thường dùng, người ta nhận thấy  đó là một câu nói hoàn toàn  có nghĩa bóng…

…Như thế, cái biểu tượng nghĩa bóng  có giá trị  hơn hết, hẳn là biểu tượng về một ngôi nhà hoặc một đô thị có thành quách bao quanh. Về ý niệm“ basilica” được coi như  là có nghĩa Triều Đại và quyền hành thống trị của nó” ( LM Vương Đình Bích – Đức Giê Su  Trước Khi Có Ki Tô Giáo ).

Với cái gọi là…Triều Đại Thiên Chúa con người được kêu gọi đến sinh hoạt  tại đó  thì đâu có cần tìm kiếm làm gì ? Nguyên nhân  sâu xa khiến Thần Học không tìm, không kiếm  bởi  đã chịu ảnh hưởng   chủ trương “ Dung Hòa Đức Tin với Lý Trí” của Philon Le Juif, người gốc Do Thái nhưng sống tại  Hy Lạp  nên còn có tên là Philon d’ Alexangdria:

“ Với ý định tổng hợp ấy, Philon nhằm dung hòa mạc khải  với lý trí. Kinh Thánh với Platon. Có thể nói, vấn đề vĩ đại nhất  trong Kinh Viện Học thời Trung Cổ tức vấn đề “Dung Hòa  Đức Tin và Lý Trí” chính là vấn đề  đã thừa hưởng  được từ tinh thần của Philon. Do đó, triết sử gia H.A Wilson  mới nói rằng: Tất cả triết lý thời Trung Cổ  đều mang bản chất Philon” ( L.T. Nghiêm – LSTHPT – Q.II ).

Philon Le Juif, một triết gia Do Thái Giáo sống cùng thời với Chúa Giê Su nhưng chưa từng gặp Ngài. Ảnh hưởng của triết gia này có tính quyết định không những chỉ trong thời Trung Cổ mà còn xuyên suốt cho đến tận ngày nay qua chủ trương Dung Hòa Đức Tin với Lý Trí. Ảnh hưởng ấy trải qua nhiều giai đoạn khác nhau  nhưng chủ yếu vẫn là để…chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa:

“ Trong nhiều quan niệm khác nhau về Thiên Chúa của triết lý Hy Lạp. Philon nhận thấy thích hợp  với  Giáo Lý Kinh Thánh duy có quan niệm sau đây của Platon: Trong đối thoại Time’e, Platon quan niệm Thiên Chúa  đã hiện hữu  từ thuở đời đời  mà khi ấy, vũ trụ  này chưa có và sau khi vũ trụ này  đã được Ngài làm cho có rồi  thì Ngài vẫn tiếp tục hiện hữu như một thực tại vô thể xác, hiện hữu trên và vượt trên vũ trụ thể xác này”( L.T.Nghiêm SĐD ).

Thiên Chúa vô thể xác, hiện hữu vượt trên vũ trụ thể xác của Platon, không hơn không kém,  đó chỉ là một Tri Thức Luận gọi là Những Lý Tưởng. Trong Đối Thoại Phe’don, Platon giải thích thế nào là Những Lý Tưởng: “ Lý Tưởng được coi như  mô phạm cho những sự vật mà sự cấu thành  của chúng đã  ghi trên bản tính của chúng tự đời đời” ( L.T.Nghiêm – SĐD ).

Khi nói Lý Tưởng là nguyên nhân mô phạm, thì cũng có nghĩa  đó chính là bản thể  của mọi sự vật. Bản Thể, trong quan niệm của Platon  là cái gì đó hoàn toàn  đơn chất, vững chắc  và luôn đồng tính với chính mình. Bản Thể ấy  còn được coi như  một thứ Thực Tại Tuyệt Đối, là Nguyên Lý Nền Tảng  của vạn vật. Chúng không lệ thuộc vào bất cứ cái gì  khác mà mọi sự vật lại lệ thuộc nó.

“ Những Lý Tưởng” của Platon thuần túy chỉ là một Ý Niệm về Thực Tại, Bởi đó cho nên học thuyết này  được gọi là  triết Duy Niệm. Mặt khác, tuy chỉ là những ý niệm có trong  đầu mỗi người, thế nhưng trong quan niệm của Platon, chúng lại là  những  Thực Tại và hiện hữu ở bên ngoài và bên trên con người. Vì vậy, triết Platon cũng gọi là Duy Thực, cũng vì tính chất Duy Thực ấy, thế nên đã đưa đến luận điểm phân chia thành hai thế giới đối lập, một bên là  Hiện Tượng Giới  luôn biến dịch. Một bên  là Bản Thể Giới không bao  giờ thay đổi ở bên ngoài và bên trên con người.

Sự phân chia thế giới thành hai phía đối lập  như thế  đã bị chính môn đệ của Platon là Aristote chỉ trích nặng nề với lập luận xác đáng  thế này:“ Khi cho  Những Lý Tưởng  tách biệt khỏi thế giới giác quan  thì nó không thể  là  Nguyên Lý  giảng nghĩa  thực tại của vạn vật, vì làm thế nào  mà nó có thể là nguyên nhân  cho một sự vật khác  nếu nó tách biệt với sự vật  ấy ?” ( L.T.Nghiêm SĐD ).Để có thể làm nguyên nhân  thì không thể tách biệt tức ở ngoài sự vật mà cần phải…nội tại trong vật. Tuy nhiên, thế nào là nội tại trong vật ?

Aristote  chủ trương để làm nguyên nhân thì nguyên nhân ấy phải nội tại trong “vật” và điều này có vẻ như  đã làm nên sự khác biệt giữa hai trường phái chủ đạo của  triết Duy Lý Hy Lạp. Trong một bức họa nổi tiếng của Raphael có nhan đề “Trường Phái Nhã Điển” trình bày các triết gia chính yếu  đã làm vinh danh cho Hy Lạp. Platon được hình dung  với một ngón tay chỉ lên trời. Còn Aristote với một ngón tay chỉ xuống đất. Đó là những cử chỉ  tượng trưng cho sự chống đối  giữa học thuyết của hai nhà.“ Một đàng Platon, triết gia của  những ý tưởng  được trình bày  như kẻ đã thất vọng với thực tại cảm giác và đi tìm trên Lý Giới  những nguyên tắc giảng nghĩa  bản tính của  vạn vật. Trái lại, Aristote được coi như một đối thủ  sau khi đã chỉ trích  Platon về khuynh hướng phân đôi thế giới thành  vật giới và lý giới đang tìm  trong chính thực tại những yếu tố  cho việc hiểu biết vạn vật” ( L.T.Nghiêm – SĐD ).

Bức Tranh miêu tả sự đối lập giữa Platon với ngón tay chỉ lên trời, còn Aristote với ngón tay chỉ xuống đất. Sự đối lập ấy thật ra chỉ là hình thức, còn nội dung  chẳng có chi khác biệt, cả hai đều nhắm đến mục đích làm sao  để…giải thích về nguyên nhân  sinh thành Vũ Trụ, Vạn Vật. Chính  với  việc  Giải Thích ấy mà đã hình thành  môn  gọi là Siêu Hình Học ( Metaphysic ). Môn học ấy được khởi xướng bởi Aristote vốn dĩ là  nhà Sinh Vật Học thời  tiền khoa học ( Thực Nghiệm ). Môn học này trải qua 03 giai đoạn:

“ Tiến triển ấy có thể được hình dung như sau: Giai đoạn đầu, Siêu Hình Học là Thần Học ( The’ologie ) nghĩa là môn học này được quan niệm là Thần Minh hay Đệ Nhất Động Cơ. Giai đoạn hai gọi là Hữu Thể Học ( Ontologie ) nghĩa là đối tượng của nó là Hữu Thể xét như Hữu Thể. Giai đoạn ba gọi là Siêu Thiên Nhiên Học nghĩa là đối tượng của nó là Bản Thể Đệ Nhất  xây dựng trên nền tảng của Bản Thể Đệ Nhị. Nói khác, Bản Thể là chỗ ngưng nghỉ là sự hoàn hảo tuyệt đối của mọi sự vật còn bị lệ thuộc  vào sự biến dịch, đổi thay” ( L.T. Nghiêm – SĐD ).

Dù là Thần Học, Hữu Thể Học hay Siêu Thiên Nhiên Học thì mục đích chủ yếu  cũng  chỉ   để  chứng minh  sự hiện hữu  của Thiên Chúa  hoặc được hiểu như là  Thượng Đế,  Đệ Nhất Động Cơ  hoặc  Hữu Thể Tuyệt Đối. Tuy nhiên, tất cả những danh xưng ấy hoàn toàn không phải là đối tượng của đức tin chân chính ( Chánh Tín ) đơn thuần  đó  chỉ là  những Quan Niệm của  Triết Duy Lý Hy Lạp. Đang khi đó, cái lầm lẫn quan trọng  bậc nhất của triết học đó là lầm giữa quan niệm và hiện hữu, giữa ý tưởng và thực tại.

Trong  triết học Kant, Lý Trí được định nghĩa như là… khả năng kết luận “ La raison est le pouvoir de conclure” mà kết luận là đi từ quan niệm này  sang quan niệm khác  chứ không nhắm đến thực tại. Như vậy, kết luận có tính chất  hoàn toàn hình thức  luôn nhắm cái “ Phải Có” chứ không quan tâm gì đến khía cạnh thực tại.

Cái “ Phải Có” theo thần học, gọi  là Thượng Đế, nhưng  chẳng qua  đó  chỉ  là một thứ Thượng Đế Học ( The’odice’e ) bắt nguồn từ Platon và Aristote. Như vậy, Thượng Đế  cũng chỉ  là  một thứ nguyên lý trừu tượng của các triết gia, tin hay không tin  đâu còn  nghĩa  lý   gì nữa  ?

Quan niệm thứ hai thuộc về Hữu Thể Học ( Ontologie ). Đây là chứng cứ  mà Descartes, triết gia nổi tiếng với công thức“ Cogito, ego sum” ( Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu ) dùng để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa “Tôi có  ý tưởng phân minh, rõ ràng  về một Hữu Thể vô cùng toàn thiện. Nếu tôi quan niệm Ngài không hiện hữu thì tôi mắc vào mâu thuẫn. Cho nên, phải kết luận rằng Ngài hiện hữu”.

Luận cứ của triết gia Cogito này đã bị Kant ( 1724 – 1804 ) đánh đổ cách dễ dàng: “ Nhận có hình tam giác mà lại không công nhận nó có 03 góc thì mâu thuẫn thật đấy. Nhưng nếu gạt bỏ  luôn cả hình tam giác và 03 góc của nó thì có mâu thuẫn gì đâu ? Đối  với  quan niệm  ta có về Hữu Thể Tuyệt Đối cũng vậy, nếu ta từ chối  sự hiện hữu của Ngài thì còn đâu những thuộc tính ( sự toàn thiện ) của Ngài  và như vậy thì cũng  đâu có mâu thuẫn gì  ?

Quan niệm thứ ba, Thiên Chúa  được coi như là Đệ Nhất  Nguyên Nhân và quan niệm  này dựa trên  bằng chứng  về  trật tự  cũng như  sự vận hành  vô cùng khôn ngoan  trong vũ trụ, vạn vật. Nếu vũ trụ, vạn vật đã  được vận hành  cách  trật tự,  khôn ngoan như thế thì  tất nhiên  phải có  Đấng  Toàn Năng, Toàn Trí điều khiển  nó ? Tuy vậy, nếu  lập  luận  này  được chấp nhận thì Thiên Chúa, nhiều lắm cũng chỉ sánh ngang với một Kiến Trúc Sư tài giỏi  chứ không phải là Đấng Sáng Tạo, bởi vì  Kiến Trúc Sư dù có tài đến đâu  đi chăng nữa  thì ông ta cũng chỉ có thể làm việc với những nguyên, vật liệu  đã sẵn có  chứ  không  hề  tạo ra nó ?

Với 03 chứng cứ vừa nêu cho thấy mục đích của Triết Học là để…chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, thế nhưng  cái mà người ta đạt được chỉ là một Ý Niệm nào đó về  Thiên Chúa chứ không phải Thực Tại Ngài Là ( Ego sum qui sum Xh 3, 15 ). Ý Niệm về Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa, điều này thật đơn giản, dễ hiểu giống như  ta có ý tưởng về  một ngôi nhà  thì đó  không phải là ngôi nhà trong thực tế. Hoặc  có ý tưởng về  một ngàn USD thì nó cũng chẳng có giá trị  bằng 01 USD mà  ta có trong túi !

Chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, rút cục người ta chỉ có thể  có  được Ý Niệm về Thiên Chúa ! Đây chính là hậu quả  của  việc “ Dung  Hòa   Lý Trí  và Đức Tin ” đem lại. Tại sao Lý Trí không thể…dung hòa với Đức Tin bởi vì đó là hai phương diện hoàn toàn khác biệt. Một đàng Lý Trí như triết học Kant nói là khả năng kết luận mà kết luận tức nhắm đến cái “ Phải Có”. Còn Đức Tin trái lại, nhắm đến cái “Chưa Có” tức niềm hy vọng, cậy trông của mọi Ki Tô Hữu:“ Vì chúng ta được cứu trong sự hy vọng, nhưng sự hy vọng đã thấy được  thì chẳng phải là hy vọng vì có ai lại hy vọng điều mình đã thấy rồi ư ? Song nếu chúng ta hy vọng điều mình chưa thấy thì chúng ta mới nhẫn nại và cậy trông” ( Rm 8, 24 -25 ).

Chỉ trong  niềm  hy vọng, cậy trông, chúng ta mới có thể được cứu và sự cứu vớt ấy tất cả là nhờ lòng  tin  nơi  Chúa Ki Tô Phục Sinh.  Lý do  cần phải tin  Chúa Ki Tô Phục Sinh, bởi vì chỉ trong  Đấng Phục Sinh ấy Giáo Hội Công Giáo mới có được các Bí Tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể. Được gọi là Bí Tích bởi  đó là những dấu chỉ bề ngoài đem đến Sự Sống Đời Đời cho các tín hữu. Nhận ra như thế để cho thấy, đặt niềm tin nơi Đức Giê Su Ki Tô chính là tin vào  Chúa Giê Su ngự thật  trong Phép Thánh Thể. Nói rằng mình tin Chúa Giê Su mà lại không tin Phép Thánh Thể, điều đó  chẳng phải  vô lý lắm sao ?

Sống Đạo là sống niềm tin vào Chúa Ki Tô Phục Sinh. Thế nhưng niềm tin ấy ngày nay hầu như…biến mất với  chủ trương “ Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo” ( Jesus Before Christianity ). Nên nhớ Giáo Hội Công Giáo Tông Truyền chỉ được khai sinh trong Ngày Lễ Ngũ Tuần cùng với Ơn Chúa Thánh Linh: “ Lại có lưỡi như lửa  hiện đến, chia ra  đậu trên mỗi người trong họ” ( Cv 2, 3 ).

Nêu lên chủ trương “ Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo” đó chẳng phải  người ta đã hoàn toàn phá hủy đức tin nơi Chúa Giê Su Ki Tô  sao ? Một khi  niềm  tin nơi Chúa Giê Su  bị phá hủy thì  Đức Tin vào Thiên Chúa như  là  Đấng Cha cũng chẳng còn nữa và đây quả thật là Thời Cuối của Ơn Cứu Độ: “ Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ  chối Chúa Giê Su là Đấng Ki Tô  sao ? Kẻ chối luôn Cha và Con  ấy là Phản Ki Tô. Hễ ai chối Con thì cũng không có Cha, còn ai nhận Con thì cũng có Cha nữa. Còn về phần các con, điều các con đã nghe từ ban đầu thì cứ để trong lòng luôn” ( Cv 2, 22 -24 ).

Thánh Gioan nói “ Thời Cuối” là để ám chỉ cho Ngày Chúa Đến trong lần thứ hai và ngày ấy cũng là Ngày Phán Xét  như Chúa Giê Su và Đức Mẹ đã nhắc nhở  mọi người: Chúa nói với thánh Faustina: “ Con sẽ chuẩn bị  cho lần đến sau cùng của Cha ( NK 429 ). Còn Đức Mẹ nói: Phần con, con phải nói cho thế giới biết  về lòng thương xót bao la  của Người và chuẩn bị cho thế giới tiếp đón Người  đến trong lần thứ hai. Người không đến  trong tư cách Đấng Cứu Độ Nhân Lành nhưng trong tư cách một Thẩm Phán Chí Công” ( NK 635 )./.

Phùng  Văn  Hóa

 

Chia sẻ Bài này:

Related posts