ĐẠO  ĐỨC  VÀ  LUÂN  LÝ

Trong một bài chia sẻ Tĩnh Tâm, chân phước Fulton John Sheen ( 1895 – 1979 nói đại ý: “ Nếu được hỏi đâu là nét nổi bật  của thời đại chúng ta hôm nay, anh chị em sẽ trả lời thế nào ? Sau một lát im lặng, ngài tự trả lời: Đó là  trong đời thường cũng như  trên  các phương tiện truyền thông, người ta không còn nhắc nhở gì đến Thiên Chúa, coi như là  Ngài…đã chết ! Cũng vì Thiên Chúa… chết, thế nên cảm thức về tội của con người ngày nay cũng  chẳng  còn và đây chính là điều cực kỳ nguy hiểm giống như những  kẻ bệnh phong cùi  mất  đi  cảm giác trên  phần cơ thể mình !

Một trong những tội bị kết án nặng nề nhất là Đồng Tính  Luyến Ái: “ Bởi cớ ấy, Thiên Chúa để mặc họ  buông theo dục tình  xấu hổ; vì đàn bà của họ  đổi cách dùng thuận tánh ra dùng nghịch tánh. Đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng thuận tánh  với đàn bà  mà un đúc tình dục  người này với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông  làm sự nhuốc nhơ  với nhau rồi tự chuốc lấy cho mình  sự báo ứng  xứng với sự lầm lạc của họ” ( Rm 1, 26 -27 ).

Tội, chẳng những chẳng cho là tội, lại còn…khuyến khích, bênh vực, đây chính là điều đức cha Athanasius  Schneider  chỉ trích nặng nề  Bản  Báo Cáo Cuối Cùng của Nhóm số 9 thuộc Thượng Hội Đồng Giám Mục Về Tính Đồng Nghị:

“ Đức cha Schneider tuyên bố: Khi ban hành Bản Báo Cáo Cuối Cùng  của Nhóm  Nghiên Cứu số 9, Ban Thư Ký THD Giám Mục đã hạ mình xuống mức  cổ vũ cho việc  tuyên truyền một Ý Thức Hệ Tình Dục toàn cầu  đang được đẩy mạnh một cách quyết liệt  trong chính trị và truyền thông trên toàn thế giới…

…Ngài mô tả cha James Martin, Dòng Tên, một nhà hoạt động vì quyền lợi LGBT và là một nhân vật truyền thông hàng đầu trong việc cổ vũ ý thức hệ LGBT  chỉ là một tay sai giáo sĩ của ý thức hệ  Phản Ki Tô Giáo và báng bổ này. Đức cha lập luận rằng những người ủng hộ Ý Thức hệ này đang tìm kiếm sự chấp thuận về mặt  đạo đức và giáo lý của Giáo Hội  đối với các hành vi  và lối sống Đồng Tính Luyến Ái tức là  những hành vi trái với  sự sáng tạo của Thiên Chúa và trật tự tự nhiên. Ngài cáo buộc Ban Thư Ký THĐ  cấu kết với những vận động hành lang của mình  trong một cuộc nổi loạn thực sự  chống lại công trình sáng tạo của Chúa, chống lại trật tự tốt đẹp và khôn ngoan của hai giới tính nam và nữ…

…Nhận xét về cách báo cáo, diễn giải Kinh Thánh, đức cha Scheineider nói rằng nó đưa ra…Một  kiểu giải thích dựa trên sự nghi ngờ về các đoạn Kinh Thánh liên quan…Cách giải thích như vậy, thực chất  đã chiếm đoạt vị trí của Thiên Chúa và tự cho mình quyền tuyên bố điều gì là tốt và điều gì là xấu. Đây chính xác là điều mà con rắn đã làm trong Vườn Địa Đàng” ( Nguồn: Vietcatholic News – 18/5/2026 – Đặng Văn An – Đức cha Scheider nói rằng Báo Cáo của THĐ giống như con rắn trong Vườn Địa Đàng ).

Đồng Tính Luyến Ái, rõ ràng là Tội nhưng lại bênh vực, viện dẫn Kinh Thánh  cho đó là… quyền của con người ( Nhân Quyền ). Điều ấy, đức cha Schneider gọi  là “ Tự cho mình quyền tuyên bố điều gì là tốt và điều gì là xấu”. Tuyên bố như thế cũng chẳng khác gì Sa Tan đã lừa dối  Nguyên Tổ nơi  Vườn Địa Đàng. Một đàng  Đức  Chúa đưa ra mệnh lệnh với Eva: “ Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về Cây Biết Điều Thiện, Điều Ác thì chớ hề ăn đến, vì một mai ngươi ăn, chắc là phải chết” ( St 2, 16 -17 ). Một đàng Rắn Sa Tan lại nói: “ Hai người chẳng chết đâu, nhưng  Đức  Chúa biết rằng hễ  hễ ngày nào hai người ăn  trái cây đó, mắt mình mở ra sẽ như  Đức  Chúa, biết điều thiện, điều ác” ( St 3, 4 -5 ).

Lời nói dối của  quỷ Sa Tan đã ứng nghiệm ngay sau khi Nguyên Tổ…Ăn Trái Cấm: “ Người nữ thấy trái của cây đó coi bộ ngon và đẹp mắt, lại quý giá vì để mở trí khôn, nên hái ăn  rồi trao cho chồng đứng sát bên cùng ăn. Đoạn, mắt hai người  liền  mở ra và biết rằng mình  lõa lồ, phải lấy lá  cây vả che thân. Lối chiều, nghe tiếng Đức Chúa  đi ngang qua vườn. A Đam và vợ ẩn mình trong  bụi cây để tránh mặt” ( St 3, 6 -8 ).

Sau khi…ăn Trái Cấm, thấy mình lõa lồ, phải lấy lá cây vả  che thân và  ẩn mình  trong  bụi cây để tránh gặp  Mặt Đức Chúa ! Như thế, hậu quả nhãn tiền của việc nghe theo cám dỗ của rắn Sa Tan…ăn Trái Cấm đó là thấy mình lõa lồ, phải ẩn mình trong bụi cây  không dám đối diện với Đức Chúa, rồi sau đó cả hai  người  còn bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng “ Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi Vườn, rồi đặt  tại phía đông Vườn  E Đen  có  các thần cherabin trấn giữ con đường đi đến Cây Sự Sống” ( St 3, 23 -24 ).

Tại sao chỉ vì…ăn có một thứ Trái bị Cấm ấy mà  hai người  đã bị đuổi  khỏi Vườn Địa Đàng, chịu muôn vàn khổ đau như thế ? Để giải thích câu chuyện Sa Ngã của Nguyên Tổ này, chúng ta cần giải theo nghĩa biểu tượng của minh triết: Vườn Địa Đàng để chỉ cho Bản Tâm Vô Phân Biệt cũng gọi là Chân Tâm Thường Trụ, luôn  sẵn có ở nơi mỗi người. Còn Trái Cây Phân Biệt Thiện, Ác là  Vọng Tâm Phân Biệt.

Chân Tâm Thường Trụ ấy, đức Khổng  Tử gọi là…Đạo: “ Đạo bất viễn nhân, nhân  chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo” ( Đạo không xa cái bản tính của người. Nếu theo Đạo để cho xa  cái bản tính của người thì không phải là Đạo”. Vì Đạo ấy mật thiết với bản tính của người như  thế, cho nên  tuy có phần rất uyên áo, dẫu người tài trí cũng không biết hết được nhưng bao giờ người thường cũng có thể theo được. Bởi vậy, Tử Tư nói rằng: Đạo của người quân tử  rộng rãi dễ hiểu mà có phần  tinh vi, ẩn khuất, không thể biết hết được. Đứa thất phu, thất phụ  cũng có thể biết được, nhưng biết cho đến cùng cực  thì tuy thánh nhân  cũng có điều không biết được, đứa thất phu, thất phụ  không có tài năng gì  cũng có thể làm được nhưng làm cho đến cùng  cực thì tuy thánh nhân  cũng có điều không làm được” ( Trần Trọng Kim – Nho Giáo. Q. Thượng ).

Đức Mạnh Tử cũng đồng ý với quan niệm “ Đạo” của Khổng Tử và nói: “ Cái Tâm đã là một  thì cái Đạo cũng là một. Cho nên nói: Phù Đạo nhất chi dĩ hỷ ( Đạo chỉ có một mà thôi ), Đạo chỉ có một  thì ai cũng có đạo lý ở trong Tâm  cả. Nếu ai cũng biết không ai hơn ai cả. Ông đem  những lời của các hiền giả đời trước  để làm chứng như lời Thánh Nghiễn  bảo Tề Cảnh Công rằng: Thánh hiền là trượng phu, ta cũng là trượng phu, ta sợ gì không được như thánh hiền ?” ( T.T. Kim – Nho Giáo – Q. Hạ ).

Về nguyên tắc là vậy, “Đạo” luôn sẵn đủ ở nơi mỗi người nhưng như đức Khổng nói: Đứa ngu phu, ngu phụ  cũng có thể biết nhưng ngay đến bậc thánh hiền cũng không thể biết đến chỗ cùng cực. Đứa thất phu cũng có thể làm được nhưng đến bậc thánh hiền cũng không thể làm đến chỗ cùng cực ! Xin dẫn chứng sau đây trường hợp  xảy ra vừa  đây cho thấy cái “ Đạo” luôn sẵn có ở nơi mỗi  người, ngay  nơi những  người bình thường, hơn nữa lại là một đảng viên Cộng Sản:

Khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 12/9/2026 tại khu vực cầu Bo, thuộc địa phận phường Trà Lý – Hưng Yên , thiếu tá Trần Văn Tùng, tiểu đoàn trưởng TĐ 3 trung đoàn BB 568, Bộ CHQS  tỉnh Hưng Yên đã dũng cảm nhảy xuống sông  cứu một thanh niên có ý định tử tử. Do dòng nước chảy xiết, thiếu tá Tùng và anh thanh niên bị cuốn trôi. Ngày hôm sau, người ta đã vớt được xác của vị thiếu tá này, đem về an táng trong sự tiếc thương vô hạn của gia đình và mọi người !

Với nghĩa cử phải nói là hết sức cao đẹp  đó, ai cũng  đều  biểu dương khen ngợi. Tuy nhiên, nếu  thiển cận mà xét thì kết quả của hành động ấy chẳng đem lại gì, ngoài cái chết và  nỗi  tiếc thương  của người thân, ( anh Tùng có một người vợ trẻ và hai con nhỏ còn đi học ). Riêng  về phần anh Tùng, thì ngay khi cởi bỏ bộ quân phục, lao mình xuống dòng sông lạnh, chảy xiết ấy, theo tôi, chắc chắn anh không nghĩ ngợi, so đo gì cả, tâm trí anh khi ấy chỉ có một ý nghĩ đó là làm sao để cứu  được người, một người mà anh không hề quen biết  trước đó ! Chính cái ý nghĩ  cứu người ấy đã thể hiện lương tri vẫn tiềm ẩn ở con người anh cũng như tất cả mọi người khác trên cõi thế gian này.

Lương Tri hay còn gọi là “ Đạo” là Chân Tâm Thường Trụ là Thiên Mệnh   ở nơi mỗi con người, bậc  thánh không tăng, kẻ phàm không giảm ấy cần làm sao  thể hiện nó ra trong đời sống của mỗi  con  người và đây chính là sứ mạng  cần có  của  Tôn Giáo:“ Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị  đạo, tu đạo chi vị giáo. Đạo dã giả bất khả  tu du ly, đắc khả  ly phi đạo dã” ( Trời phú cho gọi là Tính, theo Tính gọi là đạo, sửa đạo gọi là giáo. Đã là Đạo  thì không giây phút nào  xa lìa được, nếu xa lìa thì đó không phải là Đạo” ( Trung Dung ).

Sứ mạng của Tôn Giáo là làm sao để thể hiện cái “ Đạo” sẵn có ấy ra trong đời sống của mỗi con người. Thế nhưng cái việc trọng đại ấy  rất khó để thực hiện và phần lớn lại làm cho nó mất, hoặc thui chột đi, để chỉ còn lại…cái vỏ tức phần hình thức, bởi vậy đức Lão Tử nói:

“ Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa, tuệ trí  xuất, hữu đại ngụy. Lục thân bất khả  hữu hiếu từ, quốc gia hỗn loạn, hữu trung thần” ( Đạo lớn mất, mới có nhân nghĩa. Trí tuệ sanh mới có dối trá. Lục thân chẳng hòa mới có hiếu tử – ĐĐK chương 18 ).

“ Đạo” như đã biết đó là Chân Tâm Thường Trụ ở nơi mỗi người. Khi cái Chân Tâm ấy mất đi, quên đi ( Oublie de l’ Être )  mới cần đến Nhân Nghĩa và nhân nghĩa  đây chính là Luân Lý, là Trí Tuệ khôn ngoan  của người đời. Như vậy, cho thấy có sự khác biệt  lớn lao  giữa Đạo Đức và Luân Lý, không thể đánh đồng, lẫn lộn  được. Sự phân biệt  ấy, thánh Phao Lô đã nói  cách rõ ràng: “ Vì tại thế gian  cậy sự khôn ngoan  mình, chẳng  do sự khôn ngoan Thiên Chúa mà nhận biết Thiên Chúa, cho nên Thiên Chúa  vui lòng  dùng sự ngu dại của  đạo chúng ta  rao giảng mà cứu rỗi những kẻ tin” ( 1Cr 1, 21 ).

Người đời cậy  sự khôn ngoan, trí tuệ mình  hòng  nhận biết Thiên Chúa  nhưng không thể gặp. Trái lại, thánh Phao Lô  dùng sự khôn ngoan  Thập Giá để cứu những kẻ có lòng tin:“ Vì Đức Ki Tô  đã sai tôi  chẳng phải để làm Phép Rửa đâu  nhưng là để rao giảng  Tin Mừng chẳng phải bằng sự khôn ngoan của lời nói, e rằng thập tự giá  của Đấng Ki Tô  ra hư không chăng ?” ( 1C 1, 17 ).

Sự khôn ngoan của Thập Giá Chúa Ki Tô được rao giảng để cứu những kẻ có lòng tin và lòng tin ấy không hề vu vơ, mù quáng nhưng là để con người trở về với “ Đạo” vốn hằng hữu ở nơi mình:“ Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi, ở trong lòng ngươi tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi thừa nhận Chúa Giê Su là Cứu Chúa  và lòng ngươi tin Thiên Chúa đã  khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu” ( Dt 10, 8 -9 ).

Đức tin của Đạo Công Giáo như  thánh Phao Lô nói là tin sự hiện hữu của Thiên Chúa, Đấng Hằng Hữu ở nơi mình. Thế nhưng đức tin ấy đã bị phá hủy bởi Thần Học Duy Lý khi thay thế “ Đạo” bằng Lời Thiên Chúa: “ Vậy Kinh Thánh nói gì ? Thưa: Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng. Lời đó chính là lời chúng tôi  rao giảng  để khơi dậy đức tin. Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê Su  là Chúa và lòng bạn tin rằng  Thiên Chúa  đã làm cho Người sống lại  từ cõi chết  thì bạn sẽ được cứu độ” ( Rm 10, 8 -9 ).

Từ “ Đạo” chuyển  sang “ Lời Thiên Chúa” và Lời ở đây được hiểu như là Logos, một quan niệm của  Triết Duy Lý Hy Lạp. Với quan niệm Logos ấy, thần học đã  hoàn toàn thay thế đức tin của Đạo Công Giáo bằng tri thức triết học. Tuy nhiên, với thứ Tri Thức ấy, người ta không cách chi có thể  phân  biệt  đâu là lãnh vực Đạo Đức, đâu là Luân Lý. Một khi đã  mù mờ, lẫn lộn như thế thì tất nhiên cũng chẳng  cảm thức  được gì về Tội Lỗi và điều đó ví như sự lừa dối của Rắn Sa Tan nơi Vườn Địa Đàng, nó bảo cứ…ăn đi, cứ phân biệt thiện, ác đi,  chẳng chết chóc gì  đâu ! Thế nhưng sự thật sau đó thì sao ? Con người đã bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng, phải xa lìa Thiên Chúa, chịu muôn phần gian lao, cực khổ !!!

Bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng có nghĩa con người đã tự mình  đánh mất “ Đạo” để rơi vào Ác Tập, Đối Đãi Nhị  Nguyên, phân biệt có Ta, có Người. Thấy có Ta ( Ngã ) tức thì liền thấy có  cái của Ta ( Ngã Sở ). Thấy…có Ta và những cái của Ta như  vợ của Ta, con cái của Ta, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc của Ta, địa vị, danh vọng của Ta v.v…và v.v…Chính những  Cái Ta ( Tôi, Mình, Ngã ) và những cái Của Ta ấy nó làm cho con người phải điêu đứng, lo lắng, sợ sệt chứ chẳng phải điều gì hết !

Đức Giê Su Ki Tô từ bỏ cung trời, xuống thế để giải thoát con người khỏi những nỗi  thống  khổ triền miên ấy: “ Chúa Giê Su bèn phán cùng những người Do Thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi cứ ở trong đạo Ta, thì thật là môn đệ Ta, các ngươi sẽ nhận biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát các ngươi” ( Ga 8, 31 -32 ).

Chúa Giê Su không nói Ta đến để giải thoát nhưng là Sự Thật. Nếu cho rằng  Chúa  Giê Su đến để giải thoát thì không đúng bởi, giải thoát  nếu hiểu như  là  thoát khỏi khổ đau, giam hãm, tù đầy thì từ khi Chúa Giáng Sinh cách đây hơn hai ngàn năm, nhân loại chẳng những chẳng hết khổ, hết bị giam hãm, tù đầy mà như đang thấy, tội ác, khổ đau  ngày càng gia tăng ngay  cả trong Giáo Hội của Ngài cũng vậy. Như  thế, đó chẳng phải  Sa Tan đã thành công  trong sự lừa dối của nó  hay sao ?

Chúa nói: Sự Thật sẽ giải thoát các ngươi, điều ấy có nghĩa, chỉ khi nào  con người nhận biết Sự Thật thì khi ấy mới được giải thoát, trái lại thì không !. Mục đích  Giải Thoát của Đức Ki Tô là để con người thoát  khỏi những bám chấp sâu dày của chính mình chứ chẳng phải điều  chi  khác:

“ Có một thủ lãnh kia đến thưa với Chúa Giê Su: Thưa Thầy Nhân Lành, tôi phải làm gì để thừa hưởng sự sống đời đời ? Chúa đáp: Sao ngươi gọi Ta là nhân lành, chỉ trừ ra một Đấng Nhân Lành là Thiên Chúa  mà thôi. Ngươi có biết những giới răn, chớ gian dâm, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối, hãy hiếu kính cha mẹ rồi chớ ? Người ấy thưa: Mọi điều ấy, tôi đã vâng giữ từ thuở  bé thơ. Chúa Giê Su nghe vậy, bèn phán: Ngươi còn thiếu một điều: Hãy về bán hết tài sản ngươi, phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có của báu ở trên trời. rồi hãy đến và theo Ta. Nhưng người  nghe lời ấy  thì  rầu rĩ, bỏ đi  vì người ấy  giàu có lắm” ( Lc 18, 18 -25 ).

Những việc người thủ lãnh  làm, chẳng hạn, tuân giữ các giới răn…Tất cả  chỉ trong phạm vi Luân Lý chứ  chưa phải Đạo Đức. Đang khi đó chỉ những việc Đạo Đức mới có thể thừa hưởng Sự Sống Đời Đời. Như vậy, bao lâu còn trong phạm vi  Luân Lý  thì con người vẫn chưa thể giải thoát thực sự. Mặc dầu có sự phân biệt giữa Đạo Đức và Luân Lý như thế, nhưng trong hành động, sự phân biệt ấy chỉ diễn ra ở phần Nội Tâm và phần hình thức bên ngoài. Nói cách khác, tất cả việc lành, dữ của con người đều  khởi phát từ trong tư tưởng theo lẽ nhân, quả báo ứng:

Chúa Giê Su lên tiếng quở trách những kẻ giả hình: “ Ớ  dòng dõi rắn độc kia, các ngươi vốn là ác, sao có thể  nói lời thiện được ? Vì có sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. Người thiện do chứa thiện  mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do chứa ác mà phát ra điều ác. Ta nói cùng các ngươi, mọi lời tầm phào  mà người ta nói ra  đều phải khai trình trong ngày phán xét. Vì bởi lời nói mà người được  nên công chính, cũng do lời nói mà người  bị đoán phạt” ( Mt 12, 34 -37 ).

Người thiện do chứa thiện mà phát ra điều thiện, người ác do chứa ác mà phát ra điều ác. “ Chứa” ở đây  tức  là chất chứa trong tâm khảm mình  những tư tưởng  thiện hoặc ác. Tư tưởng thiện gọi là Thiện Tưởng, tư tưởng ác gọi là Ác Tưởng. Có chất chứa được nhiều thiện tưởng  thì mới có thể làm được điều thiện, mà làm điều thiện sẽ được an vui, hạnh phúc. Ngược lại, cứ  chất chứa nơi mình  những ác tưởng tham lam, sân hận, si mê thì không tránh khỏi  hành động ác mà hành động ác tất phải gánh chịu khổ đau, bất hạnh. !

Tất cả những tư tưởng Thiện, Ác được chất chứa ( Huân Tập ) ở trong Tâm sẽ quyết định cho hạnh phúc hay khổ đau của con người và đây chính là sự khác biệt sâu xa giữa Tân Ước và Cựu Ước cùng với những lời truyền dạy của Đức Giê Su Ki Tô:

“ Các ngươi đã nghe phán: Mắt đền mắt, răng đền răng. Song Ta nói cùng các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác. Trái lại hễ ai vả  má hữu các ngươi, hãy đưa má kia cho nó luôn. Hoặc ai muốn kiện ngươi để lấy áo trong, hãy để cho họ lấy luôn áo khoác ngoài nữa. Hay là hễ ai  muốn bắt ngươi  đi một dặm  thì hãy đi hai dặm với nó. Ai xin ngươi hãy cho, ai muốn  mượn của ngươi  thì đừng làm ngơ” ( Mt 5, 38 -42 ).

Những lời truyền dạy của Chúa xem ra  không thể  thực hiện trong đời sống con người. Tuy nhiên những điều  bất khả ấy lại trở thành khả dĩ cùng với Ơn Chúa. Sau khi  viên  thủ lãnh  giàu có kia buồn rầu bỏ đi. Chúa Giê Su thấy vậy, bèn nói với các môn đệ: “ Người giàu có vào Nước Hằng Sống  thật khó biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim  còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Đàng. Những người nghe lời ấy  nói rằng: Thế thì những ai mới được cứu thoát ? Chúa phán: Sự gì bất năng  cho loài người, vẫn khả năng cho Thiên Chúa. Phê Rô bèn thưa với Chúa: Phần chúng con, chúng con  đã bỏ những gì là của mình mà theo Thầy, chúng con sẽ được gì ? Chúa đáp: Thầy bảo thật các con, hễ có ai  bỏ cửa nhà, vợ con, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Trời mà lại không được gấp trăm ngay ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” ( Lc 18, 24 -30 ).

Bỏ  nhà cửa, con cái, anh em vì Nước Trời, tuy cũng khó đấy nhưng điều cốt yếu, Chúa đòi hỏi mỗi  người  đó là  bỏ đi Ý Riêng mình để vâng theo Ý Chúa. Không  việc đạo đức nào có thể sánh với việc từ bỏ ý riêng để vâng theo Thánh Ý Chúa. Kinh Mân Côi với cấu trúc đặc biệt sẽ giúp ta trong việc  nhận biết  và  từ bỏ Ý Riêng này hầu xứng đáng nhận được Lời Hứa của Đức Mẹ:

“ Kinh Mân Côi sẽ nuôi dưỡng những  việc lành. Sẽ đem về cho các linh hồn lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa. Sẽ kéo lòng con người khỏi tình yêu thế gian và những phù phiếm của nó. Và sẽ nâng họ lên với những ước muốn đối với Sự Sống Đời Đời. Nhờ đó, những linh hồn này sẽ được thánh hóa”

( 15 Lời Hứa, Đức Mẹ dành cho những ai siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi qua thánh Đa Minh và Chân Phước Alain de la Roche – TS Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ )./.

Phùng  Văn  Hóa

( Tháng Mân Côi 2026 ).

 

 

Chia sẻ Bài này:

Related posts