NGƯỜI  CÔNG  GIÁO  VÀ  VIỆC  GIẢI  THOÁT  SINH  TỬ  

Con người dù trong bất cứ thời đại nào cũng đều có  mối lo  là làm sao  cho mình  được hạnh phúc. Thế nhưng có nghịch lý này đó là càng lo bao nhiêu thì hạnh phúc  càng tránh xa bấy nhiêu. Lý do tuy đơn giản nhưng  lại rất mực sâu xa là vì hạnh phúc ở nơi trần gian này chỉ là…ảo ảnh không thật. Làm sao con người có được hạnh phúc đang khi đó chỉ là…ảo ảnh ?

Chính bởi hạnh phúc trần gian chỉ là ảo ảnh thế nên Đức Giê Su Ki Tô mới đưa ra khuyến  dụ cho những ai  muốn  tìm kiếm hạnh phúc chân  thật: “ Thế thì chớ  lo lắng rằng  chúng ta ăn gì ? Uống gì ? Mặc gì ?  Vì mọi điều đó các dân ngoại  vẫn lo. Song, Cha các ngươi biết  các ngươi  cần dùng những thứ đó rồi. Nhưng trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người thì mọi điều ấy sẽ được thêm cho các ngươi” ( Mt 6, 31 -33 ).

Lời Chúa là lời hằng sống là lời chân thật. Một khi Ngài đã nói: Hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người  còn mọi điều ấy sẽ được thêm cho  thì chắc chắn phải đúng  như vậy. Tuy nhiên, vấn đề  là chúng ta có tin hay không mà thôi ?

Tin rằng Thiên Chúa  là Đấng Cha sẽ ban những nhu cầu  cần thiết  để cho  ta lo tìm kiếm Nước Chúa  đó chẳng phải là  Đức Cậy của người Công Giáo  hay sao ? Dẫu vậy, lòng cậy trông ấy  không bao giờ  tách biệt khỏi hai nhân đức còn lại  là  Đức Tin và Đức Mến. Đức Tin là cánh cửa mở vào Đạo nhưng đức tin ấy sẽ chỉ vô ích nếu không có Đức Mến: “ Bây giờ, còn lại 03 điều này: Đức Tin, Hy Vọng và Tình Thương Yêu mà điều trọng hơn hết đó là Tình Thương yêu” ( 1C 13, 13 ).

Nhân đức Thương Yêu  sở dĩ quan trọng như thế là vì chính nhân đức ấy khiên cho ta nhận biết Thiên Chúa, Đấng ở nơi mình: “ Hỡi kẻ yêu dấu, chúng ta hãy thương yêu nhau vì sự thương yêu đến từ Thiên Chúa. Hễ ai có lòng thương yêu  thì sanh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai chẳng có lòng thương yêu thì không thể nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa Là Tình Yêu. Sự thương yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta thể hiện qua điều này: Đó là Thiên Chúa đã sai Con Một  của Ngài đến thế gian hầu cho chúng ta nhờ Người Con ấy mà được sống” ( 1Ga 4, 7 -9 ).

Nhờ Chúa Giê Su Ki Tô, chúng ta được sống có nghĩa, nhờ Ngài chúng ta được giải thoát khỏi vòng sinh tử, tử sinh để bước vào Cõi Sống Đời Đời là Nước Thiên Đàng ! Người thế gian tưởng  sẽ hạnh phúc khi  được ăn no, mặc ấm nhưng khi có được điều ấy vẫn  chưa  cho là đủ, lại còn muốn danh vọng, quyền lực để rồi cuối cùng cái chết ập đến không cách chi tránh khỏi !!!

Cái chết chấm dứt mọi sự, nào áo mão, cân đai nào danh vọng, quyền lực  tất cả đều đưa đến kết quả là sự hoại diệt. Mặc dầu tất cả đều hoại diệt nhưng không phải là…hư vô  có nghĩa chết không phải là hết mà  con người sẽ bị phán xét vì những gì mình đã tạo tác trong cõi đời này theo lẽ nhân quả, báo ứng: “ Ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo ứng” ( Kh 2, 22 ).

Chết không phải…là hết  và cũng chính  vì lẽ  chết không phải là hết ấy  thế nên nhân loại mới có văn chương, thơ phú, nghệ thuật và tôn giáo. Ngược lại, nếu chết là…hết chuyện thì chẳng  cần đến những thứ ấy  làm gì ?  Bởi vì chết không phải…là hết thế nên mới có văn chương, thơ phú đủ loại và  sở dĩ nó có giá trị vì đã đụng chạm  đến vấn đề cốt lõi, thâm sâu của con người: Chết có phải là hết hay còn và cái còn lại ấy là gì ?:

“ Ta  còn để lại gì không ?

Kìa non đá lở, nọ sông cát bồi

Lang thang từ độ luân hồi

U minh nẻo trước, xa xôi dặm về”

( Vũ Hoàng Chương – Nguyện Cầu )

             Hỏi để trả lời. Hỏi “ Ta còn  để lại gì không ? Có nghĩa sau khi chết…vẫn còn chứ không  phải là hết. Thế nhưng nếu không hết  thì cái hồn ấy sẽ đi về đâu ? Mặc dù đặt câu hỏi nhưng với văn chương thì không có câu trả lời hay nói đúng hơn, đành phải…đánh trống lảng:

“ Hỡi Thượng Đế, tôi cúi đầu trả lại

Linh hồn tôi, đã một kiếp đi hoang

Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái

Nhận tôi đi, dầu Địa Ngục, Thiên Đàng”

( Huy  Cận – Lửa Thiêng ).

Cái kiểu nói: “ Nhận tôi đi, dầu Địa Ngục, Thiên Đường” đó là…nói liều nói lĩnh. Dù cho nhìn nhận có Địa Ngục có Thiên Đường đấy  nhưng lại tảng lờ coi như không có. Thật ra thái độ này không riêng chỉ có ở nơi một số văn nhân, thi sĩ nhưng cũng là của không ít những người mệnh danh  Công Giáo hiện nay ?

Thật sự thì người Công Giáo không chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Đàng của Hỏa Ngục. Thế nhưng không chối bỏ mà cũng không nhìn nhận thì kể cũng như…không. Tại sao ? Bởi vì nếu thực lòng tin có hai nơi ấy  như Giáo Lý Công Giáo dạy thì một đàng cần phải có lòng ước ao ( Hân Thưởng ) và làm cách nào để được về nơi chốn phúc lạc đời đời ấy. Một đàng cần phải trừ bỏ tội lỗi để  tránh cho xa ( Yểm Ly ) cái nơi chốn  khốn cực  đời đời !

Để có thể có được lòng ước ao Thiên Đàng  và tránh xa Hỏa Ngục  thì trước hết  cần có lòng tin về sự hiện hữu của hai nơi chốn ấy. Người đời không tin sự hiện hữu của hai nơi ấy là điều không có chi khó hiểu. Thế nhưng với người Công Giáo  mà cũng chẳng tin hoặc tin cách  mù mờ thì cái gọi là Sống Đạo của họ chẳng những chỉ là một thứ hình thức vô bổ mà còn đáng bị Chúa đoán phạt. Tại sao ? Bởi vì người…có đạo tức là người có Con Đường để đi và Con Đường ấy chính là Đức Giê Su Ki Tô: “ Ta là đường là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).

Đức Ki Tô là con đường duy nhất  đến với Đấng Cha  và Đấng ấy  lại không ở đâu xa mỗi người “ Đạo ở gần ngươi và ở trong lòng ngươi tức là Đạo Đức Tin  mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi  thừa nhận Đức Giê Su  là Đấng Cứu Chuộc và lòng ngươi tin Thiên Chúa đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại  thì ngươi sẽ được cứu. Vì bởi lấy lòng tin mà được nên công chính và bởi lấy miệng thừa nhận mà được cứu rỗi” ( Rm 10, 8 -10 ).

Đạo Công Giáo là Đạo Đức Tin và tin ở đây có nghĩa là tin Chúa Giê Su đã phục sinh về Trời ngự bên hữu Chúa Cha Hằng Hữu. Tin Chúa Ki Tô Phục Sinh là đức tin căn bản của người Công Giáo. Thế nhưng để có được lòng tin chân thật ấy  thì nhất thiết cần qua trung gian của Đức Maria, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hội viên Legio Mariae có một phương châm hành động tuyệt vời về sự trung gian ấy đó là “Par Mariam Ad Jesum”. Theo tôi, đức tin của người Công Giáo hiện nay  có phần hờ hững và thiếu sót đó là vì đã không có lòng cậy nhờ Đức Maria, Đấng Trung Gian Các Ơn ?

Qua trung gian  Đức Maria, chúng ta  tin, nhận  Chúa Giê Su là Đấng Cứu Độ mình. Đức tin ấy vừa dễ dàng lại vừa bảo đảm nhất không bao giờ có thể bị lạc hay rối đạo. Trái lại thì….Tuy nhiên phải làm cách sao, bằng phương thế nào để được lòng cậy trông nơi Đức Mẹ nếu không tích cực thực hiện 03 mệnh lệnh của Ngài ? Tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ – Siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi và Cải Thiện Đời Sống. Thật ra 03 Mệnh Lệnh Phatima ấy có một sự liên kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Có tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ thì mới siêng năng Lần Chuỗi  Mân Côi và  chỉ  với sự siêng năng ấy  chúng ta mới có thể cải thiện được đời sống mình !

Tại sao siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi lại  cải thiện được đời sống mình ? Đó là vì Kinh Mân Côi của Đức Mẹ là một thứ Tâm Pháp  có  mục đích  để nghe được Tiếng Chúa ở nơi  mình !  Về việc…nghe ấy Chúa Giê Su nói với cô chị Matta khi nàng phàn nàn với Chúa rằng cô em Maria không chịu phụ giúp mình trong việc nấu nướng: “ Matta, con lo lắng và bối rối  về nhiều điều quá. Nhưng có một điều cần yếu mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất là phần  không ai  có thể đoạt lấy của nàng được” ( Lc 10, 41 -42 ).

Lý do Nghe Tiếng Chúa là điều cần yếu bởi vì chính cái nghe ấy đem lại sự giải thoát thực sự cho con người ! Người đời vì u mê nên chỉ muốn nghe những gì đem lại sự thỏa thích  mà không biết rằng chính cái nghe ấy có ảnh hưởng đến nỗi khổ, niềm đau của  mình. Nghe một bài Vọng Cổ bi ai  kể lể  về sự chia ly, tình duyên lỡ làng, lập tức ta sẽ mang tâm trạng ủ ê, buồn rười rượi. Trái lại nghe một khúc quân hành rộn rã  bỗng thấy  lòng mình phấn khởi, tươi vui….

Chẳng những việc nghe ảnh hưởng đến tâm trạng buồn hay vui nó còn đem đến sự trói buộc hay giải thoát cho con người. Ý nghĩa của việc cải thiện đời sống như lời Đức Mẹ truyền dạy đó chẳng qua  là  làm sao để chuyển hóa  cách nghe  chứ chẳng phải điều chi khác. Thay vì  nghe Tiếng Thế Gian thì nay  Nghe Tiếng Chúa. Toàn bộ Kinh Mân Côi là Lời Chúa  là lời đem lại sự giải thoát lớn lao: “ Vì Lời Chúa là lời hằng sống, linh động sắc bén hơn mọi gươm hai lưỡi, đâm thấu đến nỗi chia hồn linh, khớp tủy. Biện biệt tư tưởng và ý định của lòng người” ( Dt 4, 12 ).

Những ai có kinh nghiệm trong việc thực hành Kinh Mân Côi  đều biết trở ngại lớn nhất đó là sự chia lòng chia trí  nhưng với trở ngại ấy chúng ta mới thấy được công hiệu của Lời Chúa được ví như gươm hai lưỡi sắc bén có thể biện biệt được tư tưởng và ý định của lòng người…

Khi  thực hành Kinh Mân Côi tức  đang trong thời TU mà chia lòng chia trí ( Phân Tâm ) thì biết ngay đó là chia trí và dừng sự chia trí ấy lại, đây chính là TU là chuyển hóa tư tưởng. Nhà Thiền gọi  dừng sự chia trí ấy là “ Biết Vọng liền buông “ Bất úy tham sân khởi. Duy khủng tự giác trì” ( Không sợ  lòng tham, lòng sân khởi. Chỉ sợ biết chậm ).

Cuộc đời con người  phần lớn  phải gánh chịu những nỗi bất hạnh, khổ đau là vì  đã chấp chứa ở nơi mình những tư tưởng tham lam, sân hận, si mê  mà không hề hay biết. Giờ đây, để thoát khỏi những nỗi khổ đau, bất hạnh ấy thì duy  chỉ có cách làm sao để chuyển hóa những ác tưởng ấy thành thiện tưởng mà thôi…..

Đức Giê Su Ki Tô, Đấng đến để giải thoát những ai đang  khổ đau vì bị trói buộc bởi tội lỗi: “ Hãy học để hiểu nghĩa lời này: Ta muốn sự thương xót chứ không muốn sinh tế. Vì Ta đến không phải để kêu gọi kẻ công chính, bèn là kẻ có tội” ( Mt 9, 10 ). Chúa cứu kẻ có tội nhưng với điều kiện là  kẻ ấy phải biết ăn năn, sám hối, quyết tâm chừa cải tội lỗi mình…

Việc ăn năn, sám hối  để trở lại của kẻ có tội  là  hạnh phúc lớn của người ấy  đồng thời cũng là nỗi  vui của cả Thiên Đàng: “ Quả thật, Ta nói cùng các ngươi: Cũng vậy, ở trên trời  sẽ vui mừng  cho một tội nhân biết ăn năn trở lại  hơn là chín mươi chín kẻ công chính không ăn năn kia” ( Lc 15, 7 ).

Có khổ  mới mong  thoát khổ. Cũng vậy, có bị giam hãm, tù đầy mới mong được tự do. Hơn bao giờ hết, nhân loại hiện nay đang bị giam nhốt trong một thứ ngục tù tuy vô hình nhưng   hiểm nguy  như chưa từng có  đó là  tội lỗi hay nói đúng hơn là  hầu như đã không còn có ý thức chi về tội. Một khi đã không còn có ý thức về tội thì làm sao có thể có được lòng ăn năn chừa tội ? Trước tình thế cực kỳ nguy nan ấy, Chúa Giê Su nói với chị Josefa Menandez ( 1890 – 1923 ) một nữ tu Dòng Trái Tim Chúa Giê Su: “ Đã nhiều lần Cha báo cho con hay: Một ngày nào đó, mọi sự dường như  sụp đổ và công nghiệp của Cha như đã tiêu tan nhưng hôm nay Cha bảo với con rằng Ánh Sáng sẽ đến mãnh liệt” ( TĐ của Chúa Giê Su cho thế giới ).

Chúa nói: Ánh Sáng sẽ đến mãnh liệt để ám chỉ cho Ngày Chúa đến lần thứ hai như một  vị Quan Án Chí Công ( Nhật Ký thánh Faustina ). Trong ngày trọng đại ấy  những ai biết kiên tâm cầu nguyện  sẽ được cứu thoát: “ Vì ngươi đã giữ đạo của  sự nhẫn nại Ta  cũng sẽ giữ ngươi  khỏi giờ thử thách là giờ  sắp đến trong khắp thiên hạ” ( Kh 3, 10 )./.

Phùng  Văn  Hóa

 

 

            

 

 

Chia sẻ Bài này:

Related posts