Có những khoảnh khắc trong đời, chúng ta buộc phải đối diện với một sự thật rất khó chấp nhận: con người có thể yếu đuối, có thể chọn sai, có thể phản bội. Nhưng cũng chính trong những khoảnh khắc ấy, tình yêu chân thật lại tỏa sáng rõ nhất. Bài Thương Khó theo sách Tin Mừng của thánh Mátthêu trong Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay cho chúng ta thấy cả hai điều đó: bóng tối của con người và ánh sáng của Thiên Chúa.
- Chúa Giêsu bị những người bạn gần gũi phản bội
Câu chuyện mở đầu bằng một quyết định lạnh lùng: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26: 15). Ba mươi đồng bạc, cái giá quá rẻ đối với một tình bạn và nhất là đối với chính Thiên Chúa.
Giuđa không xa lạ, nhưng là người ở rất gần. Điều đáng sợ là: phản bội thường đến từ bên trong. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI viết: “Sự phản bội của Giuđa vẫn là một bí nhiệm. Chúa Giêsu đối xử với ông như một người bạn (Mt 26: 50); tuy nhiên, trong những lời mời gọi đi theo Ngài trên con đường hạnh phúc, Ngài không ép buộc ý chí của ông hay bảo vệ ông khỏi những cám dỗ của Satan, Ngài tôn trọng sự tự do của con người.” [1] Giuđa là lời cảnh tỉnh rằng ngay cả sự gần gũi với Chúa cũng không tự động cứu chúng ta.
Đức Bênêđictô XVI nói thêm: “Chúa Giêsu phải trải qua thời khắc những người trong vòng bạn bè thân thiết nhất của Ngài không hiểu Ngài và thậm chí bất trung với Ngài…Sự phản bội của Giuđa không phải là sự bội tín cuối cùng mà Chúa Giêsu phải chịu. “Ngay cả người bạn thân thiết của tôi, người mà tôi tin cậy, người đã ăn bánh của tôi, cũng đã phản bội tôi” (Tv 41: 9)…Vào giờ phút này, Chúa Giêsu đã gánh lấy sự phản bội của mọi thời đại và Ngài đã chịu đựng nỗi thống khổ của lịch sử cho đến tận cùng cay đắng.” [2]
Giuđa đặt ra cho ta một câu hỏi: tôi có đang “bán Chúa” mỗi ngày không? Có thể bằng những thỏa hiệp nhỏ, những lần chọn tiền của, tiện nghi, tham vọng riêng, những lần im lặng trước sự thật, như Đức Bênêđictô XVI chỉ ra: “Thực tế, những khả năng làm tha hóa tâm hồn con người quả thật rất nhiều.” Ngài cho thấy: “Cách duy nhất để ngăn chặn điều đó là không nuôi dưỡng một quan điểm cá nhân chủ nghĩa, tự trị về mọi sự, mà trái lại, luôn luôn đứng về phía Chúa Giêsu, chấp nhận quan điểm của Ngài. Chúng ta phải hằng ngày tìm cách xây dựng sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài” (đã dẫn trên).
- Bị phản bội, Chúa Giêsu vẫn trao ban Tình yêu
Nhưng giữa bóng tối ấy, Chúa Giêsu vẫn trao ban: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy…Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy…” (Mt 26: 26-28). Ngài biết sẽ bị phản bội, nhưng vẫn yêu thương. Đó là điều làm nên khác biệt: Thiên Chúa không rút lại tình yêu.
Thánh Têrêxa Avila (1515-1582) đã cảm nghiệm quá rõ ràng Lòng Chúa Thương Xót của Thiên Chúa, nên ngài nói: “Hãy tin tưởng vào lượng từ bi của Thiên Chúa, lượng từ bi cao cả vượt trên mọi gian ác tội lỗi chúng ta có thể phạm. Với lòng khiêm tốn nhận biết mình, nếu chúng ta muốn nối lại tình bạn thân mật với Ngài, thì Ngài chẳng còn nhớ tội vong ân, cũng chẳng còn nhớ rằng chúng ta đã lạm dụng các hồng ân Ngài đã ban cho chúng ta…lòng Thương Xót của Ngài không bao giờ vơi cạn” (Tự Thuật 19, 15; Tự Thuật 19, 10; 14, 9). [3]
Chúa bẻ mình ra, trao mình đi, ngay cả khi không được thấu hiểu, bị xúc phạm, bị phản bội. Thánh Thể không chỉ là một nghi thức, nhưng là một lối sống: sống yêu thương và trao ban chính mình như Chúa, dù bị hiểu lầm, hay bị tổn thương.
Ở vườn Cây Dầu, trong cơn hấp hối, Chúa Giêsu bày tỏ trọn vẹn nhân tính: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được…Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26: 38- 39). Đây là đỉnh cao của vâng phục, như Đức Bênêđictô XVI nói: “Nếu bạn vâng theo ý muốn của Thiên Chúa, bạn biết rằng dù mọi điều khủng khiếp xảy đến với bạn, bạn sẽ không bao giờ mất đi nơi nương náu cuối cùng…Vì vậy ngay cả khi không một người nào có thể giúp đỡ bạn, bạn vẫn có thể tiếp tục tin tưởng vào Đấng yêu thương bạn” (Chúa Giêsu thành Nadarét). [4]
- Con người yếu đuối và con đường hoán cải
Phêrô từng quả quyết: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26: 35). Nhưng rồi ông chối ba lần. Tuy nhiên, không lâu sau đó tiếng gà gáy đánh thức lương tâm của ông: “Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26: 75).
Khác với Giuđa, Phêrô đã khóc, và chính nước mắt ấy cứu ông. Đó là nước mắt hoán cải, tin tưởng vào lòng xót thương luôn tha thứ của Chúa Giêsu. Bằng cách đó, con đường trở về với Thiên Chúa được mở ra cho Phêrô, và cho tất cả các tội nhân: “Thiên Chúa luôn sẵn sàng thứ tha, Ngài từ bi nhân hậu…” (Nkm 9: 17). Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Chúa không bao giờ thấy mệt khi tha thứ cho chúng ta; chỉ có chúng ta thấy mệt khi đi tìm lòng thương xót của Ngài” (Tông huấn Evangelii Gaudium, số 3). Yếu đuối không phải là kết thúc. Điều quan trọng là chúng ta có quay về với Thiên Chúa là Đấng hay tha thứ hay không.
- Thinh lặng và nghịch lý của Thập Giá
Trước cáo buộc, “Chúa Giêsu vẫn làm thinh” (Mt 26: 63). Trước Philatô, “Chúa Giêsu không trả lời” (Mt 27: 14). Đó không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của sự thật. Isaia đã tiên báo: “Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50: 6-7)
Chúng ta thường muốn chống trả khi bị hiểu lầm, nhưng Chúa chọn con đường thinh lặng. Đám đông hét lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27: 22). Thay vì chọn Chúa, họ đã chọn Baraba, một tên tội phạm. Điều đó vẫn lặp lại hôm nay: con người chọn điều dễ dàng thay vì điều đúng đắn.
Chúa Giêsu bị sỉ nhục, đánh đòn, đội mão gai. Và trên thập giá, Ngài kêu lên: “Lạy Thiên Chúa… sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27: 46). Đây là tiếng kêu cô đơn nhất trong mọi nỗi cô đơn. Nỗi đau lớn nhất là cảm giác bị bỏ rơi. Nhưng chính nơi đó, tình yêu chiến thắng: Thánh Phaolô viết: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2: 8-9).
Thập giá của Chúa Giêsu không phải là thất bại, nhưng là tình yêu tự hiến, là con đường mở ra dẫn đến Thiên Chúa: “Bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai” (Mt 27: 51), bởi chính trên Thập giá, Ngài tỏ lộ mình là Thiên Chúa: “Viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Chúa Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 54)
- Lời mời gọi chọn lựa trước Thập Giá
Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu không chỉ là chuyện quá khứ, nhưng là tấm gương soi cho mỗi người hôm nay. Khi ta thỏa hiệp với điều sai, ta là Giuđa: “Tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa” (Mt 26: 16). Khi ta sợ hãi, ta là Phêrô: “Tôi không biết cô nói gì!.. Tôi không biết người ấy … Tôi thề là không biết người ấy” (Mt 26: 69-74). Điều quan trọng là có biết ăn năn và quay về không: “Ông Phêrô sực nhớ lời Chúa Giêsu đã nói: Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26: 75). Khi ta chạy theo đám đông, ta là những người hô: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27: 22-23). Khi ta im lặng trước bất công, ta là Philatô: “Lấy nước rửa tay trước mặt đám đông” (Mt 27: 24). Đức Phanxicô cảnh báo: “Chúng ta không nhạy cảm đối với tiếng kêu của người khác, làm cho chúng ta sống trong những bong bóng xà bông, đẹp nhưng chẳng là gì cả, đó là ảo tưởng về sự phù dù, tạm bợ, dẫn tới sự dửng dưng đối với tha nhân, đưa tới sự hoàn cầu hóa thái độ dửng dưng” (Đài Vatican, 08-07-2013).
Nhưng Tin Mừng cũng mở ra con đường khác: Trung thành như các phụ nữ: “Có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Chúa Giêsu từ Galilê để giúp đỡ Ngài” (Mt 27: 55-56). Can đảm như Giuse Arimathê: “Đến gặp ông Philatô để xin thi hài Chúa Giêsu” (Mt 27: 58). Nhận ra Chúa như viên đại đội trưởng: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 54)
Isaia nhắc lại cách chọn lựa đầy lòng trung tín của Người Tôi Trung, cũng cần phải là cách chọn lựa của mỗi môn đệ Chúa Kitô: “Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá” (Is 50: 6-7). Thánh Phaolô tóm tắt sự chọn lựa trung tín của Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2: 8)
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Chính nhờ Thánh Giá của mình, Chúa Kitô đánh vào tận gốc rễ của cái ác, được gieo trồng trong lịch sử loài người và trong tâm hồn con người. Chính nhờ Thánh Giá của mình, Ngài phải hoàn thành công trình cứu rỗi. Công trình này, trong kế hoạch của Tình Yêu vĩnh cửu, mang tính chất cứu chuộc” (Tông thư Salvifici Doloris, số 16).
Thập giá không phải là dấu chấm hết, mà là dấu chấm than của tình yêu: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5: 8). Vì thế, thập giá đặt ra một chọn lựa.
Câu hỏi cuối cùng là: tôi sẽ đáp lại tình yêu ấy thế nào? Bởi vì theo Chúa Kitô là bước vào con đường thập giá, dẫn đến những hy sinh, từ bỏ chính mình, và cuối cùng là cái chết, nhưng lại là con đường dẫn đến sự sống đích thực muôn đời. Điều an ủi lớn lao nhất là chúng ta không đi một mình. Chúa Kitô đã đi trước và vẫn còn đang đi cùng mỗi người chúng ta. Thập giá không phải là kết thúc. Thập giá là khởi đầu của hy vọng như Đức Bênêđictô XVI viết: “Hy vọng cao cả, thật sự vững vàng của con người, ngay cả trong mọi nỗi tuyệt vọng, chỉ có thể là Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và tiếp tục yêu thương chúng ta “đến cùng”, cho đến khi mọi sự “đã hoàn tất” (Spe Salvi, số 27).
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=724 5
[3] https://ocdvietnam.org/2020/04/15/long-chua-thuong-xot-theo-kinh-nghiem-cua-thanh-terexa-avila/
[4] https://ewtn.co.uk/article-10-quotes-from-pope-benedict-xvi-on-the-beauty-of-love-and-suffering/