TẤM  LÒNG  NGƯỜI  MẸ

Chỉ khi đã là một… “người ông”, tôi mới thật sự có lòng thương yêu và biết ơn hai đấng sinh thành ra mình. Lý do bởi  đã tận mắt  thấy những đứa con gái, con dâu của mình yêu thương, chăm sóc, lo lắng cho những đứa con bé bỏng của chúng ! Từ đó, tôi suy ra rằng mình cũng đã từng được  mẹ, cha yêu thương như vậy và có lẽ còn hơn thế nhiều bởi  hãy tưởng tượng xem  trong một hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn  mọi bề  như thế thì cha mẹ phải vất vả, khổ cực đến chừng nào  mới có thể sinh ra rồi nuôi nấng những đứa con của mình thành  người ?

Mẹ tôi sinh năm 1901, phải nói là thuộc thế hệ rất cổ xưa và cũng như bao phụ nữ thời đó, bà không biết chữ. Tuy không có chữ nghĩa gì cả  nhưng lại thuộc Kinh, Bổn làu làu. Có điểm mà ngày nay nhớ lại tôi  cho là rất đặc biệt  đó là tuy không biết chữ nhưng bà lại rất hâm mộ chữ nghĩa. Sở dĩ tôi tin như thế là bởi lần kia có lẽ vào khoảng lên chín hay lên mười… tôi được bà dẫn bộ lên tận tỉnh Sơn ( Sơn Tây ) cách làng gần mười  cây số  và không biết làm sao bà lại biết đến một tiệm, dò hỏi và mua cho tôi mấy cuốn sách, có lẽ là Sách Cách Trí gì đó ?

Đến năm 1954, di cư vào Nam, định cư được một năm tại Khu Ngã Ba Ông Tạ ( Sài Gòn ) chính bà lại dẫn tôi đến nhập học tại Trường Tiểu Học Thánh Tâm gần nhà do frere  Alexis làm hiệu trưởng. Qua  mấy  lời  thăm  hỏi  với thầy chẳng biết căn cứ vào đâu bà lại xin cho tôi vào lớp nhất tức là lớp năm cấp một bây giờ ! Thú thật trong mấy năm học hành  khi còn ở ngoài Bắc, cũng như bao đứa trẻ trong làng khác, chẳng có chương trình, lớp lang gì cả. Khoảng hơn  mười đứa chúng tôi, tuổi từ chín đến mười  lăm  có cả bên lương lẫn bên giáo được thầy Văn ( Sau làm linh mục ) được cử từ ĐCV về  dạy, buổi  đực  buổi cái, có khi nghỉ cả   tuần vì…chạy loạn!

Xóm giáo của tôi cũng là của nhà văn MC nổi tiếng Nguyễn Ngọc Ngạn  ngày đó  tuy cũng có cha xứ là linh mục sau là giám mục  Phê Rô Nguyễn Huy Quang nhưng cũng chỉ là một…họ lẻ. Cả bọn chúng tôi, khi đó Nguyễn Ngọc Ngạn thua tôi  03 tuổi không ở trong nhóm. Như đã nói  việc học hành của chúng tôi rất là….tơ lơ mơ, thường chỉ được học 04 Phép Toán Cộng Trừ Nhân Chía,  đôi khi được thầy Văn đọc chính tả cho chép, vậy thôi!

Việc học là như  vậy, thế nên tôi rất…đuối khi di cư vào Nam,  lên  bậc trung học kể cả mấy năm  Tiểu Chủng Viện. Nói đến việc…Đi Tu, không thể không nhắc đến bà mẹ tội nghiệp của tôi. Trong lòng bà, dường như luôn có một nỗi ước ao là thấy con mình được vinh dự ở trong “ Nhà Chúa” là nơi chỉ toàn là những người…giỏi dang, thánh thiện ? Nhưng, thật đáng tiếc, tôi chỉ ở chủng viện vỏn vẹn có 03 năm  rồi phải về vì học lực kém ! Xách vali về nhà, chắc mẹ buồn lắm nhưng không nói gì!

Trong  nhiều năm sau đó, cứ  đến  lễ hai thánh tông đồ  Phê Rô – Phao Lô  bà lại sửa soạn quà cáp đơn sơ từ chiều hôm trước, giục dã tôi đến thăm  cha  Dư Tác Thiện, chánh xứ Tân Hưng ( Xóm Mới ), ngủ đêm tại nhà xứ để sáng sớm hôm sau mừng lễ ! Thật tình lòng tôi không muốn  chút nào  nhưng mẹ dường như  cứ nài ép  phải đi cho bằng được!

Ngoại trừ những năm sống đời lính tráng xa nhà không đến mừng lễ quan thầy cha bố  nhưng trong nhiều năm  sau khi đã lập gia đình, hàng năm  trong các dịp lễ, Tết, tôi đều nhớ và  đem vợ con đến thăm cha  như để  tỏ lòng biết ơn đến người cha  đỡ đầu trong đời sống tâm linh và  làm như thế, quả thật tôi đã phần  nào  trả được món nợ yêu thương  đối với người mẹ trần gian  của mình. Từ khi được Ơn Chúa cho trở lại, tôi đã dấn bước trên con đường tu tập Thiền Định  bằng  Kinh Mân  Côi  cho tới  ngày nay!

Sau biến cố bảy lăm, tôi đưa cả gia đình về khu vực Hố Nai sinh sống. Ông thì ở với vợ chồng tôi còn bà thì ở với gia đình người chị gái. Cả hai ông bà đã theo nhau về với Chúa, cách nhau chỉ một năm. Khi bà lìa đời, tôi vẫn chưa được Ơn Trở Lại thế nên chỉ ngồi kề bên giường, lặng lẽ nhìn mà chẳng biết làm gì cả!

Tuy vậy, với những khoảnh khắc lặng lẽ ấy, tôi đã có một cảm nghiệm sâu xa về  sự chết và dường như  người mẹ ấy dù thân xác bất động  nhưng linh hồn bà  vẫn dõi theo, âm thầm như  nhắc nhở  một điều gì đó rất đỗi thẳm sâu và linh thiêng đang chờ đợi  tôi ở phía trước!

Tấm lòng của người mẹ đối với những đứa con của mình luôn là một cái gì đó khó bề diễn tả bằng ngôn từ nhất là trong  khi gặp những hoàn cảnh hiểm nguy  không lường trước được. Cha Lê Quang Uy, Dòng Chúa Cứu Thế  trong nhiều trang sách đã nhắc nhớ đến người mẹ của mình vừa như để biết ơn vừa có phần rất đỗi tự hào:

“ Chiều 28 tháng 4, 1975, vừa kết thúc Thánh Lễ bên nhà thờ Phan Xi Cô  Đakao, cha chủ sự chúc bình an xong và mời mọi người chạy xuống khu nội cấm của Tu Viện. Tôi lúc ấy 16 tuổi, không biết sợ là gì, chỉ nghĩ đến gia đình mình bây giờ chắc  đang bấn cả lên vì không thấy thằng con út đâu. Tôi đã vượt thoát  ra cổng nhà thờ, nép sát lề đường để chạy vội về nhà mình. Vào được nhà rồi, tôi chạy ào vào phòng giữa, nơi có đặt bàn thờ gia đình, tôi thấy ba tôi, các chị và anh tôi đang ngồi sụp xuống nền nhà, nép sát vào nhau đọc kinh râm ran. Còn mẹ tôi mừng rỡ chạy đến ôm chầm lấy tôi mừng rỡ…

…Mẹ tôi chưa kịp hoàn hồn thì tới phiên chị Năm của tôi cũng vừa về tới. Mẹ tôi lại ôm  chầm lấy chị tôi, miệng vẫn đang đọc rất to: “ …cầu cho chúng con là kẻ có tội…” Tôi thấy mẹ tôi  giống như đang điểm danh từng  người con trong nhà, khi thấy chỉ thiếu  có mỗi chị Cả  tôi đang ở với chồng con bên Phú Nhuận, mẹ tôi mới tạm yên tâm để kết thúc  lời Kinh với Mẹ Maria: “ Lạy Chúa Giê Su, xin tha tội  cho chúng con, xin cứu chúng con….Amen” ( Lm Lê Quang Uy C.SsR – Chuyến Đi Vạn Hành – Tập 5 ).

Người mẹ nào thì cũng thương yêu con  mình và  với những bà mẹ có con trai, phần đông đều muốn chúng yên bề gia thất, có con để nối dõi tông đường…Riêng với  mẹ của cha Uy thì khác, bà chỉ muốn đứa  con trai của bà…  đi Tu và  tỏ ra dứt khoát khi từ chối việc cưới hỏi  tưởng  như  đã  gần  kề:

“ Đấy, cái giai thoại trong gia đình về…tôi là như thế. Tôi cứ ngỡ chỉ là giai thoại, ngờ đâu đến một ngày, năm tôi 27 tuổi, đứng khoanh tay ngỏ ý xin ba mẹ tôi  đi hỏi cưới người bạn gái đã “ thâm niên” thì mẹ tôi xoay ngang câu chuyện, gạt phắt đi, chẳng phải vì không ưng ý cô ấy vốn  là một thiếu nữ nết na, gia giáo mà chỉ vì: “ Cậu phải đi tu, tôi đã mơ như thế là đúng như thế”

…Kinh khủng quá ! Đã thế, ba tôi mọi khi có tiếng nói quyết định của một gia trưởng  uy quyền, lần này lại lẳng lặng đứng lên đi làm một…điếu thuốc lào ! Thật khổ thân tôi…

…Dằng dai mãi, bên ấy không thấy động tĩnh gì, chắc cũng sốt ruột. Cô bạn gái của tôi nhờ người quen biết gia đình tôi hỏi han và cuối cùng  cũng biết được đầu đuôi. Cô ấy không lộ chuyện ra, âm thầm xin đi Linh Thao  cả tuần. Đùng một cái, cô ấy mời tôi đến nhà và thổ lộ tất cả: “ Uy đi tu là đúng rồi đấy ! Mà mình cũng sẽ đi tu ! Mình đã cầu nguyện và lắng nghe được Tiếng Chúa. Uy và mình  sẽ chẳng lập gia đình với bất cứ ai. Chỉ có con đường TU  mới đem lại hạnh phúc cho cả hai và cho mọi người…” Thế là chấm hết ! Chấm than hẳn hoi” ( Chuyến Đi Vạn Hành đã dẫn ).

Bà mẹ nằm mơ thấy con mình không những…phải đi TU mà còn phải trở thành một  linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ? Chàng thanh niên đang là sinh viên  Đại Học Kiến Trúc ấy tìm hiểu ơn gọi  là một ứng sinh  ĐCV  thánh Giu Se  nhưng  phải thi hành nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong trước đã. Thế nhưng khi nói với mẹ chuyện ấy thì bà  tỏ ra không vừa ý:

“ Lại trở về với chuyện của mẹ tôi. Khi biết tôi đã quy phục  và được nhận vào vào Đại Chủng Viện, bà vẫn  cằn nhằn: Tôi nằm mơ rõ ràng cậu vào DCCT  chứ có phải đi chủng viện đâu ? Tôi chỉ biết chống chế: “ Tu đâu cũng là tu, mẹ ơi ! Sao lại phải đi tu Chúa Cứu Thế  mới được ?  Các cha bên ấy đang còn phải đi …tĩnh tâm dài hạn, ai mà  dám nhận người vào Dòng đâu ?  Có lẽ mẹ tôi sợ cậu út  lại giở chứng, giở quẻ nên đành im lặng chờ cơ hội !…

…Cho đến năm 1989, bất ngờ tôi gặp một anh đang  tìm hiểu Ơn Gọi DCCT , tôi bán tín bán nghi, hỏi thăm cha Tiến Lộc  mới biết Nhà Dòng  vẫn đang âm thầm  nhận người đi tu. Tôi mừng quá, vội xin chuyển hướng, cha Vũ Khởi Phụng nhận ngay vào Khóa Dự Tập. Đến lúc ấy  tôi mới thấy tin vào lời giải mộng của mẹ tôi, kỳ diệu thật !…

…Ngày tôi báo tin vui được nhận vào Nhà Tập DCCT  thì ba tôi đã qua đời tròn ba năm, mẹ tôi rớm nước mắt  bảo: “ Thôi, bây giờ mẹ có đi theo ba về với Chúa cũng được rồi” ( Chuyến Đi Vạn Hành – đã dẫn ).

Nghe  câu nói của bà mẹ cha Uy, bất giác  tôi  liên tưởng tới lời tiên tri  Simeon khi gặp Đức Maria và thánh Giu Se  dâng con vào đền thờ: “ Lạy Chúa, giờ đây  đầy tớ Chúa được ra đi bình an vì con mắt tôi đã thấy ơn cứu rỗi, Chúa đã dành cho Dân  Người” ( Lc 2, 29 -31 ). Việc…nằm mơ của  người mẹ ấy, tôi cho đó cũng chính là Thánh Ý Chúa đã quan phòng xếp đặt cho  công tác Mục Vụ thích hợp  của cha Uy sau này  đó là Bảo Vệ Sinh Sản, Tĩnh Tâm cho Giới Trẻ về những vấn đề gai góc của thời đại  v.v…

Tôi quan niệm rằng cả trong lãnh vực đời thường cũng như đời tâm linh, không có gì là ngẫu nhiên, tình cờ, tất cả đều tuân thủ theo định luật Nhân Duyên Quả Báo. Sự ra đời và hiện hữu  của bất cứ con người nào đều có duyên phận của nó và thánh Augustin, tiến sĩ Hội Thánh  với bà mẹ Monica nổi tiếng của ngài là một trong những trường hợp đó.

Thánh Augustin ( 354 – 430 ) là một  giáo phụ trổi vượt  về lãnh vực nội tâm, đã được triết gia Karl Jaspers hết lời ca ngợi: “ Ở đây  thấy muôn vàn kiểu nói bất hủ về đời sống tâm linh; ra như  những gì thuộc tâm linh sâu kín đã được diễn tả thành ngôn ngữ linh động. Thực vậy, đây là một triết lý về nội tâm  được suy tư rất sâu xa và rất thú vị mà triết học xưa  chưa hề biết tới” ( GS Lê Tôn Nghiêm – LSTHTP. Q.II ).

Mỗi thời đại, đều có những thánh nhân xuất hiện và  ẩn khuất phía sau vị thánh ấy là…những bà mẹ. Bà Monica là tấm gương sáng rỡ của Giáo Hội Công Giáo về  sự kiên trì cầu nguyện và lòng cậy trông  cho Ơn Gọi của con mình ngay cả trong  những  giấc chiêm bao: “ Và từ trên cao, Chúa đã giơ tay kéo linh hồn con ra khỏi  vực sâu tăm tối đó; đang khi mẹ con là nữ tỳ  trung tín của Chúa, khóc lóc  trước mặt Chúa về con nhiều hơn các bà mẹ khóc con mình đã chết. Vì nhờ tinh thần đức tin  mà người đã lãnh nhận nơi Chúa, người thấy con đã chết. Và Chúa đã nghe lời người, Lạy Chúa, Chúa đã nghe lời người  và đã không khinh chê nước mắt mà người đã đổ ra  tưới mặt đất  dưới chân người, khắp nơi người cầu nguyện. Chúa đã nghe lời người…Vì bởi đâu  mà có giấc chiêm bao, để Chúa yên ủi người, đến nỗi người lại thỏa thuận  cho con sống cùng nhà, ăn cùng bàn với người ? Ban đầu, người không muốn điều đó, vì gớm ghét và ghê tởm những xúc phạm do lạc thuyết của con gây nên. Vậy, trong giấc chiêm bao, người đã thấy mình đứng trên một cái thước gỗ, một thanh niên sáng rực đi với người, vui vẻ và  tươi cười với người, đang khi người  buồn rầu, chán nản. Thanh niên hỏi người  về lý do buồn rầu đó và nước mắt hàng ngày, để dạy bảo người, như sự  có thường xảy đến, người khóc cho sự hư đi của con. Thì thanh niên truyền cho người hãy yên tâm và bảo người hãy để ý mà nhìn xem: người ở đâu con cũng ở đó. Người nhìn xem và thấy rằng: Con đứng cùng  người trên cùng một cái thước…

…Bởi đâu có cuộc chiêm bao đó, nếu không phải là vì Chúa  đã để tai nghe lòng dạ người sao ? Ôi ! Thiên Chúa  tốt lành và toàn năng ! Chúa chăm sóc từng người chúng con như thể Chúa  chỉ chăm sóc có một mình nó. Và Chúa chăm sóc mọi người như từng người một” ( Saint Augustin – Tự Thuật ).

Quả thật, Thiên Chúa là Đấng nhân từ, cao cả và quyền năng, Ngài chăm sóc từng người, không hề bỏ sót một ai  dù kẻ ấy có tội lỗi, xấu xa đến đâu. Mặc dầu vậy, Thiên Chúa vẫn đòi hỏi  ở nơi mỗi người  lòng tin và sự cậy trông  bền  vững. Chính đức tin và lòng cậy trông ấy  đã khiến cho thánh Monica  có thể  vượt qua bao gian lao, nguy hiểm  để cộng tác với Ơn Chúa cho việc trở lại của con mình:

“ Ôi, Chúa là hy vọng của con từ tuổi thanh xuân. Đối với con, lúc đó Chúa ở đâu và Chúa ẩn mình nơi  nào ?  Há chẳng phải Chúa đã dựng nên con , đã làm cho con khác loài  thú bốn chân và khác hơn chim trời hay sao ? Nhưng lang thang  trong tăm tối và trên con đường trơn trượt, con tìm kiếm Chúa ở ngoài con  nên con không gặp được Chúa của lòng con. Con đã chìm tận đáy biển và đã mất hết tín nhiệm và hy vọng tìm được chân lý…

…Được lòng đạo thêm sức mạnh, mẹ con đã đến với con, ngài vượt biển hàng ngàn  để theo con và trong mọi cơn nguy khốn, ngài được Chúa  hộ phù. Vì trong những lúc gian nan  của cuộc vượt biển, ngài đã khích lệ các hành khách chưa quen vượt biển. Khi họ lo sợ, ngài đã hứa  với họ là sẽ được tới bến bình an, vì Chúa đã hứa cho ngài sự ấy trong một thị kiến.” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Trong cuộc hành trình  đức tin của Dân Chúa, chúng ta thấy luôn có những thị kiến hay nói theo  đời thường  là  giấc mộng. Đối với  Monica, bà tin những giấc mộng ấy đến từ Chúa  và chính vì tin  tưởng như thế nên bà đã có được  vững tâm trong những ước nguyện của mình là muốn con được Ơn Trở Lại và…làm Thánh:

“ Người ta hằng thúc giục con kết bạn. Con đã cầu hôn và hai bên đã ước hôn. Trong việc này, mẹ con hành động  mạnh nhất, hầu sau khi kết bạn, con được chịu Phép Thánh Tẩy Cứu Độ. Ngài  vui mừng thấy con  mỗi ngày một xứng đáng  với Nhiệm Tích đó và trong đức tin của con, ngài nhìn nhận là ước nguyện của ngài và lời hứa của Chúa đã được thực hiện…

…Thật vậy, theo lời con xin và theo ước nguyện của mẹ con, hàng ngày, ngài khẩn khoản kêu xin Chúa  dùng một thị kiến  tỏ cho ngài biết  một chút về cuộc hôn phối  tương lai của con nhưng Chúa đã không  hề ưng thuận. Ngài đã  nhìn thấy những hình ảnh hư ảo và kỳ quái, như khi tâm thần người ta  yên trí quá  về việc gì thì  thường phát xuất những hiện tượng như vậy. Ngài kể cho con nghe, nhưng ngài không tin tưởng  như thường lệ, khi Chúa mạc khải cho ngài, ngài còn khinh thường  các hình ảnh đó nữa. Ngài bảo là ngài nhận thấy con không biết do một cảm thức nào mà lời  nói không thể tả được, một sự khác biệt  giữa các mạc khải do  Chúa mà đến và các mơ mộng của tâm thần ngài…

…Tuy nhiên, người ta thúc giục kết hôn nhưng còn thiếu hai năm mới tới tuổi kết bạn. Vì chị ta vừa ý con, nên chỉ còn chờ đợi” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Con đường thực hiện tâm linh, tất cả  chỉ  hệ tại ở việc  biết vâng theo Thánh Ý Chúa. Tuy nhiên việc vâng theo Thánh Ý ấy  thật sự không hề  dễ dàng chút nào bởi lẽ nó hoàn toàn trái ngược với những dự tính, nguyện vọng của con người. Thánh Augustin khi chưa được Ơn Trở Lại, ngài vẫn tính đến chuyện kết hôn và sống cuộc sống như bao người khác. Thế nhưng Ý Chúa nhiệm mầu đã dẫn dắt vị giám mục tương lai này đi theo Con Đường  hoàn toàn khác  đó là  Con Đường Từ Bỏ của Đức Ky Tô:

“ Vậy con vội vã trở lại chỗ Alypius ngồi vì khi đứng dậy ra đi, con đã để sách Tông Đồ lại đó. Con cầm lấy, mở ra  và đọc thầm đoạn thứ nhất mắt con bắt gặp: Không phải trong chè chén say sưa, trong dâm dật và phóng đãng, trong kình địch và ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô và đừng lo toan về xác thịt cho thỏa các đam mê. Và con không muốn  đọc thêm nữa vì thấy không cần. Thật vậy, con vừa đọc xong câu đó thì như có một  ánh sáng an bình tràn vào lòng con, làm tan biến  mọi tối tăm của sự nghi ngờ” ( Thánh Augustin – Tự Thuật đã dẫn ).

Cái khoảnh khắc đánh động tâm trí thánh Augustin theo như lời kể của ngài là khi đọc  được đoạn Kinh Thánh về sự Từ Bỏ để theo Đức Ky Tô. Thế nhưng  thực ra  để có được sự… đánh động đó hoàn toàn không có chi là  ngẫu nhiên, hay  tình cờ mà  ngài  đã phải  trải qua một quá trình nỗ lực tìm kiếm  lâu dài cùng với ước nguyện lớn lao của người mẹ. Có thể nói, nếu không có ước nguyện lớn lao  cùng với đức tin và lòng cậy trông của người mẹ  kiên cường ấy  thì con đường Nên Thánh của Augustin  cũng  khó mà thành tựu?

Việc trở lại và nên thánh của Augustin có phần đóng góp to lớn  của bà Monica là điều không thể phủ nhận và  cũng vì điều đó đã khiến bà được chung phần niềm vui cao cả với  người con yêu dấu của mình:

“ Chúng con đã bỏ đó mà đi tới chỗ mẹ con và kể cho người biết để người vui mừng. Chúng con đã kể công việc đã xảy ra như thế nào: Người hân hoan, đắc chí và tán tụng Chúa, Đấng “ quyền năng làm được mọi sự”  một cách phong phú  hơn điều chúng con cầu xin và nghĩ tưởng vì nơi Con Chúa  đã ban cho người  nhiều hơn người đã xin, qua những lời than thở và bao nước mắt thống khổ. Vì Chúa đã làm cho con trở lại với Chúa một cách hoàn toàn, đến nỗi con không còn  mơ màng gì đến  vợ con  hay một hy vọng nào nữa, con đã đứng trên “ Luật Đức Tin” mà bao năm trước đây, Chúa đã cho người thấy  trong một thị kiến. Chúa đã đổi tang tóc của người ra vui mừng quá đỗi, quá điều người ước ao và quý giá, thanh tịnh hơn  niềm vui mừng mà người chờ đợi ở  con cháu phần xác của con” (Thánh Augustin – Tự Thuật  đã dẫn ).

Theo lời kể của chính thánh Augustin thì việc trở lại của ngài là do  được thúc  đẩy  bởi  lời thánh Phao Lô về sự từ bỏ, nguyên văn  như sau: “ Phải như thế  vì anh em biết  chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy vì hiện nay ngày Thiên Chúa Cứu Độ  đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí  của sự sống để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho  cho đúng đắn  như người đang sống giữa ban ngày, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng cũng không cãi cọ, ghen tương. Nhưng anh em hãy  mặc lấy  Chúa Giê Su Ky Tô và đừng chiều theo  tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” ( Rm 13, 11 -14 ).

Để sống đời từ bỏ tức “ Mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô” thì không có cách nào khác ngoài ra là phải coi  thế gian, ngay cả thân xác này cũng  chỉ là thứ hư phù, sinh diệt, có đấy rồi liền mất đấy: “ Sự sống của anh em là chi ? Chẳng qua  chỉ như  một chút hơi nước. Hiện ra một lát rồi lại tan mất” ( Gc 4, 14 ).

Sự sống vật chất, thế gian chỉ là hư ảo, bởi vậy thánh Augustin khi trở lại  như ngài nói không màng gì đến chuyện vợ con cũng như có chút hy vọng gì ở cõi đời này nữa. Với thánh Monica cũng vậy, trước đây ngài vẫn ước ao được chôn cất tại quê hương bản quán, nhưng sau việc trở lại của thánh Augustin và với  Ơn Chúa, ngài đã từ bỏ ý định ấy:

Trong  giờ phút lâm chung, thánh Monica đã trối lại cho các con đang tề tựu bên giường: “ Các con hãy chôn mẹ  các con ở đây”. Con thinh lặng và ứa nước mắt. Nhưng em con nói  mấy lời tỏ ý  ước ao thấy  ngài chết tại quê nhà hơn là ở nơi tha hương này. Nghe thấy vậy, ngài tỏ vẻ không bằng lòng, ngài quắc mắt nhìn em con, vì đã có những ý tưởng như vậy, rồi ngài nhìn con mà nói: “ Con xem, nó nói như vậy đó. Đoạn ngài bảo cả hai chúng con: Các con chôn xác này ở đâu cũng được, các con đừng quá lo về nó, mẹ chỉ xin các con một điều  là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Cả một đời vất vả, gian lao chỉ với  niềm  ước ao là thấy con mình  bỏ  đường tà vạy để trở về với Chúa nhưng người mẹ ấy  trong giây phút lìa đời lại chỉ xin các con một điều là hãy nhớ đến mình trong lời cầu nguyện trước Bàn Thờ Chúa. Ôi, đức tin  và tấm lòng của người mẹ ấy  mới  đẹp lòng Chúa biết bao ? Bởi suy cho cùng, con người ta sinh ra trong cõi đời này rồi ra ai mà  chẳng phải chết. Nhưng chết rồi đi đâu ? Về đâu ? Thánh Augustin và mẹ ngài là bà Monica đã trải qua cuộc đời dương thế  với tất cả lòng tin và niềm cậy trông, giờ đây đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng, đó  chẳng phải là niềm hy vọng của tất cả những tâm hồn thiện lương  trong bất cứ  truyền thống tâm linh nào hay sao ?

Các truyền thống tâm linh đều  có cùng một mục đích đó là  để giải quyết rốt ráo vấn đề sinh tử, tử sinh. Đại sư Hám Sơn ( 1546 – 1623 ) tục danh Đức Thanh  là một thiền sư danh tiếng của cả hai truyền thống Thiền Tông và Tịnh Độ Tông vào  cuối  thời nhà Minh ( Trung Quốc ). Ngài được coi là một Thánh Tăng ngang hàng với  04 vị đại sư khác là Từ Bá Đạt Quán, Vân Thê Châu Hoàng và  Ngẫu Ích Tri Húc. Sau khi nhập diệt, sư đã để lại nhục thân không bị hư thối và hiện  đặt tại Chùa Tào Khê  cùng với nhục thân của đức lục tổ Huệ Năng  cho tín hữu thập phương chiêm bái.

Cũng như những vị thiền sư nổi tiếng khác, ngay từ khi còn rất nhỏ, Đức Thanh  đã  có nỗi  ưu tư về  lẽ sống chết  ở  đời : “  Khi tôi lên bảy, mẹ tôi cho tôi đi học. Khi ấy tôi có một người cậu thương tôi lắm. Một hôm, trước khi tôi đi học về, cậu chết. Khi tôi thấy cậu nằm bất động trên giường, cố dấu tôi về cái chết của cậu, mẹ tôi nói: Cậu ngủ, con muốn đánh thức cậu dậy cũng được. Nghe vậy, tôi lên tiếng gọi cậu mấy lần nhưng cậu chẳng hề đáp. Thấy vậy, mợ tôi quá đau khổ, gào lên: Hỡi trời ơi, mình đã đi đâu rồi ? Bàng hoàng quá, tôi hỏi mẹ: Cậu nằm ngay đó mà sao mợ lại bảo là cậu đã đi ? Lúc ấy, mẹ tôi nói: Cậu con chết rồi ! Chết rồi về đâu ? Tôi hỏi và từ đó câu hỏi ấy  đã ăn sâu vào tâm trí tôi” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập ).

Chính câu hỏi: “Chết rồi về đâu” ?  ấy  đã khiến  cậu bé Đức Thanh dấn bước trên con đường  Tu Tập để tìm  cho ra câu trả lời. Tuy nhiên, đó là câu chuyện về sau  và câu chuyện này có liên quan mật thiết đến bà mẹ tuyệt vời của đại sư Hám Sơn:

“ Khi lên tám, tôi được gửi trọ  tại nhà một người họ hàng ở bên kia sông để gần trường học hơn. Mẹ tôi cấm không  cho về nhà  nhiều hơn là mỗi tháng một lần. Thế nhưng một hôm, sau ngày nghỉ hàng tháng, tôi không chịu trở lại trường. Khi tôi bảo tôi không thể rời bà được, bà nổi xung thiên, bà đánh tôi và đuổi tôi ra bờ sông. Nhưng tới đó tôi vẫn không chịu rời bà để lên đò. Đang cơn giận, mẹ tôi túm lấy tóc tôi và ném tôi xuống sông, rồi quay về  nhà mà không  một lần ngoái lại. Bà tôi có mặt  gần đó kêu cứu, nhờ thế tôi thoát chết. Cuối cùng, khi tôi về nhà, mẹ tôi hét: Để cái đồ vô tích sự  đó sống làm gì ? Thà nó chết chìm còn hơn ! Sau đó bà đánh đòn tôi  và định đuổi tôi đi. Lúc ấy, tôi cho rằng mẹ tôi quá nghiêm khắc  và tàn nhẫn, nên tôi quyết không về nhà nữa…

…Sau đó, tôi được biết rằng mẹ tôi nhiều lần đứng khóc một mình trên bờ sông. Khi bà tôi biết việc đó,bà quở trách mẹ tôi. Lệ tuôn trào  lên má, mẹ tôi đáp: Con phải làm cho nó  vượt qua được cái tính quá đa cảm để nó có thể học hành nghiêm nghị” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).

Bà mẹ để tâm đến việc học hành của con, muốn nó được công thành danh toại với thiên hạ. Thế nhưng với  Đức Thanh, ngay  khi chỉ là một thiếu niên đã có chí hướng  thoát tục  để bước vào Con Đường Tâm Linh hầu vĩnh viễn thoát khổ. Trong một lần kia khi theo mẹ lên chùa, chợt nghe một ông tăng tụng Kinh Phổ Môn ( Pháp Hoa ) và nhờ  vậy đã có một ý thức  dù còn mờ nhạt về sự vô ích của con đường học vấn mà mẹ  muốn mình theo đuổi:

“ Vào năm 1555, tôi lên mười. Mẹ tôi ép tôi học dữ quá, khiến tôi buồn lắm. Tôi hỏi bà: Sao con phải học ? Bà đáp: Để đạt được một địa vị cao trong chính phủ ! Tôi hỏi tiếp: Thế sau này con có thể đạt được địa vị như thế nào ? Bà đáp: Con có thể bắt đầu bằng một địa vị thấp và rồi biết đâu có thể lên tới Tể Tướng. Tôi nói: Dù cho con có trở thành Tể Tướng đi, rồi sao nữa ? Bà đáp: Người ta chỉ có thể lên tới đó !

Nghe mẹ nói như vậy, Đức Thanh thoáng suy nghĩ rồi  đáp: “Làm một công chức cao cấp  thì có ích gì ? Làm việc cả đời, vất vả, khổ cực  để chẳng được gì  thì thật là vô ích. Con muốn đạt được một cái gì đó  có giá trị vĩnh cửu”. Với một cậu bé  mới lên mười mà đã có quan niệm về giá trị đích thực của hạnh phúc như thế quả là hy hữu. Tuy nhiên quan niệm ấy lại rất tương ưng với  Lão Tử, một bậc đại triết  sống cách  đó  đã  hàng ngàn năm về  Con Đường Đạo:

“ Theo học, ngày càng  thêm

Theo Đạo, ngày càng bớt

Bớt rồi lại bớt, đến mức vô vi”

(  Vi học nhật ích – Vi Đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, Dĩ chí ư vô vi )

ĐĐK  chương 48

Cái học của người đời mục đích chỉ để thu thập kiến thức tức…thêm vào. Trái lại, theo Đạo thì cần phải bớt, bớt  mãi  đến chỗ Vô Vi có nghĩa có làm nhưng không hề chấp chước vào việc làm tức không còn thấy…có một Cái Tôi ( Ngã Chấp ) nữa…

Vào năm Đức Thanh 12 tuổi có ý xuất gia, tuy cha không đồng ý nhưng mẹ lại chấp thuận và từ đó Hám Sơn dấn thân trên đường tu tập, trải qua vô số trở ngại, bệnh tật, tù đầy, bị đánh đập, tra khảo  nhưng vẫn bền tâm nuôi dưỡng lòng khát khao lìa bỏ thế giới khổ đau này. Trong một giấc mộng, ngài được đưa lên tới  Cung Trời Đâu Xuất nghe Bồ Tát Di Lặc giảng kinh:

“ Theo chân ông tăng, tôi leo những bậc  lên một bục cao, tôi đứng lặng ở đó, mắt nhắm, thấy vừa hồi hộp  vừa hoan hỉ. Nghe tiếng chuông ngân, tôi thấy Di Lặc Bồ Tát đã  lên gần đến  Tòa. Tôi đảnh lễ, gương mặt Ngài  rực rỡ ánh vàng, không gì trên thế gian có thể sánh được. Rõ ràng tôi là khách danh dự và Di Lặc Bồ Tát  sẽ giảng kinh này đặc biệt cho tôi. Tôi quỳ xuống và mở  Cuốn Kinh ra thì nghe Ngài nói: Phân Biệt là Thức. Vô Phân Biệt là Trí. Dựa vào Thức là Nhiễm. Dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có sinh tử. Tịnh chẳng có chư Phật. Bỗng nhiên cả thân lẫn tâm  thấy rỗng không và tôi  tỉnh giấc  với tiếng Ngài còn vẳng bên tai. Từ ấy, tôi thấu triệt  được sự dị biệt giữa Thức và Trí. Tôi hiểu tôi đã lên tới Cõi Trời Đâu Xuất, cung điện của Đức Di Lặc” ( Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).

Đại sư Hám Sơn tu và đắc đạo, được vua ban cho Đại Tạng Kinh  và ngài    cũng muốn về thăm song thân khi ấy vẫn còn sống. Vào năm 1589 khi  ấy đại sư đã 40 tuổi, ngài làm một bài kệ, tỏ ra đã chứng đắc thâm sâu về Thiền:

“ Ngày ngày sóng nổi ngập thái không

Chim cá cùng bơi một kính trong

Đêm qua trăng bỗng rụng bên trời

Sáng bừng như lẫn ngọc ly long”

Lập tức, tôi gọi thị giả và bảo ông ta: Bây giờ tôi có thể về quê, thăm cha mẹ được rồi. Báo Ân Tự ở quận nhà tôi, từ lâu nay đã xin  trọn bộ Đại Tạng. Vào tháng mười tôi đi kinh sư  để xin cho người đồng xứ. Hoàng đế ban cho  trọn Bộ Đại Tạng. Theo hộ tống đến Long Giang, về đến Báo Ân Tự  vào tháng mười một. Trước khi tôi về tới tháp, trong  Chùa phóng quang suốt  mấy ngày. Vào ngày Kinh về tới, ánh sáng hiển linh như một chiếc cầu vồng trải từ trời xuống đất. Tất cả tăng chúng  đến nghênh Kinh đều đi qua ánh sáng này. Suốt các buổi lễ  An Kinh, ánh sáng chiếu mỗi ngày không hề gián đoạn. người đến xem lên đến trên vạn mỗi ngày, từ khắp nơi đến chứng kiến phép lạ này. Tất cả đều cho đó là  điềm hiếm có và lành…

…. Trong khi đó, mẹ già nghe tin tôi về, bà sai người đến hỏi xem khi nào tôi về thăm nhà ? Để trả lời, tôi nói là Triều Đình phái tôi hộ tống Kinh chứ không phải để về nhà. Tuy nhiên, nếu mẹ tôi có thể tiếp tôi một cách vui vẻ, không hề  khổ não, như thể tôi chưa từng rời bà thì tôi sẽ ở lại nhà hai  đêm. Khi mẹ tôi nghe những lời ấy, bà thốt lên: Đây thật là  cuộc gặp gỡ “ bất ngờ” giống như tìm lại được một người nhà  trong một kiếp khác. Quá hoan hỉ, làm sao tôi  còn có thì giờ để đau khổ ?  Ô, ta sẽ rất hài lòng gặp  con ta dù chỉ trong một khoảnh khắc. Hai đêm ở nhà hơn ta mong  mỏi quá nhiều…

….Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi vui quá, bà chẳng lộ vẻ  buồn khổ gì cả. Nơi bà, tôi chỉ thấy niềm vui, điều này làm tôi ngạc nhiên lắm ! Vào buổi chiều, các huynh trưởng trong họ hàng đến, một người trong họ hỏi: Thầy đến bằng thuyền  hay bằng đường bộ ? Mẹ tôi lập tức trả lời: Nói bằng thuyền hay bằng đường bộ là ngụ ý gì vậy ? Người họ hàng nói: Điều tôi thực sự muốn biết  là thầy ấy từ đâu về nhà ? Mẹ tôi đáp: Từ “ Không” trở về với chúng ta. Tôi  rất ngạc nhiên khi nghe bà nói vậy, trong cơn ngạc nhiên tôi nói: Chẳng lạ gì mà bà cụ cho tôi  Đi Tu ! Đoạn tôi hỏi bà: Từ khi con đi khỏi nhà, mẹ có nghĩ tới con không ? Bà nói: Sao không cho được ? Tôi bèn hỏi: Thế mẹ làm gì để khuây khỏa ? Bà đáp: Thoạt đầu mẹ cũng không biết làm gì ! Rồi nghe người khác bảo rằng  con đang ở Ngũ Đài Sơn. Mẹ hỏi  một thầy tăng, nơi đó ở đâu ? Thầy bảo, ở ngay dưới Bắc Đẩu. Thế là mẹ đảnh lễ Sao Bắc Đẩu  và niệm Danh Hiệu Bồ Tát. Sau đó mẹ thấy khuây khỏa hơn và không còn nghĩ tới con nữa ! Rồi thì mẹ cho là con đã chết rồi, với mẹ không còn  khổ não, không còn nghĩ đến con. Bây giờ mẹ gặp con  như thể trong một kiếp khác.” ( Thiền Đạo Tu Tập – đã dẫn ).

Qua 03 câu chuyện về 03 người  mẹ  tuyệt vời  trên  đây  cho thấy  chính tình thương yêu của các bà  dành cho con của mình đã giúp  họ trở nên những con người xuất chúng, hơn nữa…là những vị Thánh ! Tuy nhiên  có một Bà Mẹ còn trên cả tuyệt vời nữa  bởi vì Ngài  khác hơn mọi bà mẹ  khác. Những bà mẹ trần gian quả  là có tình yêu thương con cái  nhưng chỉ là khi chúng còn  thơ ấu, bé nhỏ, biết vâng lời… nhưng khi đã lớn khôn, lập gia đình riêng thì khi ấy hầu như tình yêu thương không còn ! Mặt khác những người mẹ trần gian này dù thương con  đến  mấy nhưng lại không có khả năng đầy đủ  để giúp chúng khi cần. Trái lại Đức Maria là một Người Mẹ  vừa có lòng từ bi vô hạn lại có quyền lực mạnh mẽ  hầu  cứu giup con cái  mọi lúc, mọi nơi khi chúng  ta kêu cầu đến Ngài !

Sở dĩ Đức Maria có quyền lực mạnh mẽ như thế  bởi vì Ngài  là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc: “ Ngôi Hai bắt đầu việc Cứu Chuộc với sự ưng thuận  của Đức Mẹ, khi đã long trọng hỏi ý kiến  và Đức Mẹ đã đồng ý chấp nhận. Đến sau, Người cũng không thực hiện việc Cứu Độ  nếu không có sự ưng thuận  và sự chứng kiến  của Đức Mẹ; Bởi Đức Maria  đã cùng chịu khổ, cùng chung chí hướng  với Chúa Ky Tô. Đức Mẹ đã  xứng đáng  trở thành Vị Khôi Phục Thế Giới hư hỏng và là Đấng ban các ơn  mà Chúa Ky Tô đã tử nạn, đổ máu chuộc lại. Đứng kề Thánh Giá Chúa trên đồi Calve  Mẹ đại diện  cho toàn thể nhân loại. Trong các Thánh Lễ ngày nay, Chúa Cứu Thế  cũng thực hành  theo thể thức trên . Đức Maria, Người Nữ  đã được báo trước  từ Vườn Địa Đàng sẽ đạp giập đầu  rắn Sa Tan, đang có mặt và luôn luôn hành động  với Chúa Ky Tô. Muốn dự Thánh Lễ cho nên, cần phải thân mật kết hợp với Đức Mẹ” ( Thủ Bản Legio – Chương 8 câu số 88 ).

Tại  sao  cần  kết hợp với Đức Mẹ để được Ơn Cứu Rỗi ? Xin thưa đó là vì Đức Maria đã được tiên báo từ muôn thuở  là Người Nữ đạp giập đầu rắn Sa Tan: “ Đức Giehova phán với con rắn: Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ. Dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 14 -15 ).

Lời tiên báo này cho thấy  một cuộc chiến tâm linh sẽ  diễn ra giữa dòng dõi Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội  và  dòng dõi  của quỷ Sa Tan. Dòng dõi Đức Maria bao gồm những người tin theo Đức Giê Su Ky Tô. Còn dòng dõi Sa Tan là những người không tin, phục Ngài. Cuộc chiến tâm linh ấy tuy âm thầm nhưng hết sức khốc liệt diễn ra trong suốt  lịch sử  Cứu Độ, từ ngày  xuất sinh nơi đời của Đức Giê Su Ky Tô cho tới  thời  tận cùng hiện nay.

Để khởi đầu cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, Đức Giê Su đã kêu gọi  lòng tin và sự sám hối, ăn năn: “ Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần, các ngươi hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Sám hối và tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô luôn gắn bó mật thiết với nhau. Có thực lòng sám hối ăn năn chừa cải tội mình thì mới có thể có được lòng tin vào Tin Mừng, lý do bởi  vì Tin Mừng của Đức Ky Tô là về Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại ( Lc 17, 20 -21 ).

Việc ăn năn, sám hối tội mình đó chính là  Tu mà tu  tức là sửa là cải thiện đời sống mình chứ chẳng phải điều chi khác. Cần phải TU thì mới có thể tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô, trái lại thì không. Cũng chính bởi đã nhận thức được ý nghĩa của việc TU  như thế  nên  các bà mẹ  được nêu trong thiên luận này mới mong mỏi cho con mình theo đuổi  con đường  Tu Trì  hầu đạt đến hạnh phúc viên mãn Nước Trời.

Với các người mẹ trần gian đã  thế thì Đức Maria Người Mẹ Tâm Linh cũng vậy, nhưng trổi vượt hơn rất  nhiều. Ngài đã dâng Con Mình là Đức Giê Su để   nên  như một…tế vật  dù biết là Người Con Chí Thánh ấy sẽ bị người ta giết chết cách vô cùng đau đớn. Suy tư về mầu nhiệm lớn lao này, thánh Ambrosio  nói: “ Dưới chân Thánh Giá, khi Mẹ nhìn đến các thương tích  của  con  với cặp mắt Mẹ Hiền. Điều Mẹ nghĩ tưởng không phải là cái chết của con yêu dấu nhưng là phần rỗi nhân thế” ( M.V Bernadot O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Đức Maria đã dâng con mình là Chúa Giê Su lên Chúa Cha  như một…tế vật và   muốn chúng ta là dòng dõi của Ngài cũng phải hiến dâng cuộc đời mình  như vậy. Hiến dâng cuộc đời mình ở đây có nghĩa là TU mà Tu theo Chúa  có nghĩa là Bỏ Mình, vui lòng  vác thập giá theo Ngài ( Lc 9, 20 ).

Thập giá là một thứ khổ hình dành cho tử tội, như vậy, vác thập giá theo Chúa là  hành vi  hết sức khó. Tuy nhiên một khi Chúa Giê Su đã nói vậy thì phải đúng như vậy, có nghĩa phải vui lòng chịu khổ vì Chúa  trong mọi hoàn cảnh thì mới có thể  thoát khổ, không còn con đường nào khác ?

Trong những lần Đức Mẹ hiện ra trên khắp thế giới, Ngài chỉ có một  Thông Điệp duy nhất đó là kêu gọi con cái mình hãy  sám hối, ăn năn cải chừa tội lỗi, thế nhưng dường như người ta vẫn… bưng tai, nhắm mắt làm ngơ. Vào  ngày 13/10/ 1980, Đức Mẹ hiện ra tại  Nicaragua nói với  một nông dân tên là Bernado Martinez: “ Con đã xin những điều không quan trọng. Hãy xin đức tin, để mỗi chúng con có sức mạnh để vác thánh giá của chúng con. Những đau khổ của thế gian này không thể nào cất khỏi chúng con. Những đau khổ chính là  thánh giá chúng con phải chịu” ( Lm Rene’ Laurentin – Những Lần Hiện Ra Của Đức Trinh Nữ Maria ).

Đau khổ ở cõi thế gian này không thể kể xiết nhưng nếu  thực tâm tin vào Chúa Giê Su Ky Tô, Đấng đến để cứu vớt những kẻ tội lỗi, bất toàn và  hết lòng cậy trông nơi Đức Maria  thì  tất cả chúng ta sẽ được cứu thoát. Thánh Benado, tiến sĩ Hội Thánh nói: “ Theo chân Mẹ, bạn không lạc lối, kêu cầu Mẹ, bạn không thất vọng, nhớ tưởng Mẹ, bạn không mê lầm. Tựa váo Mẹ, bạn không sợ ngã. Mẹ chở che,  bạn không khiếp sợ. Mẹ dẫn dắt, bạn không nản lòng thối chí. Nhờ Mẹ, bạn về tới bến”  ( Sách Vàng  của thánh G. De Monfort – Senatus Sài Gòn Xuất Bản )./.

 

Phùng  Văn  Hóa

 

( Thân tặng cha Giu Se Lê Quang Uy DCCT )

 

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ Bài này:

Related posts