Chỉ khi đã là một… “người ông”, tôi mới thật sự có lòng thương yêu và biết ơn hai đấng sinh thành ra mình. Lý do bởi đã tận mắt thấy những đứa con gái, con dâu của mình yêu thương, chăm sóc, lo lắng cho những đứa con bé bỏng của chúng ! Từ đó, tôi suy ra rằng mình cũng đã từng được mẹ, cha yêu thương như vậy và có lẽ còn hơn thế nhiều bởi hãy tưởng tượng xem trong một hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn mọi bề như thế thì cha mẹ phải vất vả, khổ cực đến chừng nào mới có thể sinh ra rồi nuôi nấng những đứa con của mình thành người ?
Mẹ tôi sinh năm 1901, phải nói là thuộc thế hệ rất cổ xưa và cũng như bao phụ nữ thời đó, bà không biết chữ. Tuy không có chữ nghĩa gì cả nhưng lại thuộc Kinh, Bổn làu làu. Có điểm mà ngày nay nhớ lại tôi cho là rất đặc biệt đó là tuy không biết chữ nhưng bà lại rất hâm mộ chữ nghĩa. Sở dĩ tôi tin như thế là bởi lần kia có lẽ vào khoảng lên chín hay lên mười… tôi được bà dẫn bộ lên tận tỉnh Sơn ( Sơn Tây ) cách làng gần mười cây số và không biết làm sao bà lại biết đến một tiệm, dò hỏi và mua cho tôi mấy cuốn sách, có lẽ là Sách Cách Trí gì đó ?
Đến năm 1954, di cư vào Nam, định cư được một năm tại Khu Ngã Ba Ông Tạ ( Sài Gòn ) chính bà lại dẫn tôi đến nhập học tại Trường Tiểu Học Thánh Tâm gần nhà do frere Alexis làm hiệu trưởng. Qua mấy lời thăm hỏi với thầy chẳng biết căn cứ vào đâu bà lại xin cho tôi vào lớp nhất tức là lớp năm cấp một bây giờ ! Thú thật trong mấy năm học hành khi còn ở ngoài Bắc, cũng như bao đứa trẻ trong làng khác, chẳng có chương trình, lớp lang gì cả. Khoảng hơn mười đứa chúng tôi, tuổi từ chín đến mười lăm có cả bên lương lẫn bên giáo được thầy Văn ( Sau làm linh mục ) được cử từ ĐCV về dạy, buổi đực buổi cái, có khi nghỉ cả tuần vì…chạy loạn!
Xóm giáo của tôi cũng là của nhà văn MC nổi tiếng Nguyễn Ngọc Ngạn ngày đó tuy cũng có cha xứ là linh mục sau là giám mục Phê Rô Nguyễn Huy Quang nhưng cũng chỉ là một…họ lẻ. Cả bọn chúng tôi, khi đó Nguyễn Ngọc Ngạn thua tôi 03 tuổi không ở trong nhóm. Như đã nói việc học hành của chúng tôi rất là….tơ lơ mơ, thường chỉ được học 04 Phép Toán Cộng Trừ Nhân Chía, đôi khi được thầy Văn đọc chính tả cho chép, vậy thôi!
Việc học là như vậy, thế nên tôi rất…đuối khi di cư vào Nam, lên bậc trung học kể cả mấy năm Tiểu Chủng Viện. Nói đến việc…Đi Tu, không thể không nhắc đến bà mẹ tội nghiệp của tôi. Trong lòng bà, dường như luôn có một nỗi ước ao là thấy con mình được vinh dự ở trong “ Nhà Chúa” là nơi chỉ toàn là những người…giỏi dang, thánh thiện ? Nhưng, thật đáng tiếc, tôi chỉ ở chủng viện vỏn vẹn có 03 năm rồi phải về vì học lực kém ! Xách vali về nhà, chắc mẹ buồn lắm nhưng không nói gì!
Trong nhiều năm sau đó, cứ đến lễ hai thánh tông đồ Phê Rô – Phao Lô bà lại sửa soạn quà cáp đơn sơ từ chiều hôm trước, giục dã tôi đến thăm cha Dư Tác Thiện, chánh xứ Tân Hưng ( Xóm Mới ), ngủ đêm tại nhà xứ để sáng sớm hôm sau mừng lễ ! Thật tình lòng tôi không muốn chút nào nhưng mẹ dường như cứ nài ép phải đi cho bằng được!
Ngoại trừ những năm sống đời lính tráng xa nhà không đến mừng lễ quan thầy cha bố nhưng trong nhiều năm sau khi đã lập gia đình, hàng năm trong các dịp lễ, Tết, tôi đều nhớ và đem vợ con đến thăm cha như để tỏ lòng biết ơn đến người cha đỡ đầu trong đời sống tâm linh và làm như thế, quả thật tôi đã phần nào trả được món nợ yêu thương đối với người mẹ trần gian của mình. Từ khi được Ơn Chúa cho trở lại, tôi đã dấn bước trên con đường tu tập Thiền Định bằng Kinh Mân Côi cho tới ngày nay!
Sau biến cố bảy lăm, tôi đưa cả gia đình về khu vực Hố Nai sinh sống. Ông thì ở với vợ chồng tôi còn bà thì ở với gia đình người chị gái. Cả hai ông bà đã theo nhau về với Chúa, cách nhau chỉ một năm. Khi bà lìa đời, tôi vẫn chưa được Ơn Trở Lại thế nên chỉ ngồi kề bên giường, lặng lẽ nhìn mà chẳng biết làm gì cả!
Tuy vậy, với những khoảnh khắc lặng lẽ ấy, tôi đã có một cảm nghiệm sâu xa về sự chết và dường như người mẹ ấy dù thân xác bất động nhưng linh hồn bà vẫn dõi theo, âm thầm như nhắc nhở một điều gì đó rất đỗi thẳm sâu và linh thiêng đang chờ đợi tôi ở phía trước!
Tấm lòng của người mẹ đối với những đứa con của mình luôn là một cái gì đó khó bề diễn tả bằng ngôn từ nhất là trong khi gặp những hoàn cảnh hiểm nguy không lường trước được. Cha Lê Quang Uy, Dòng Chúa Cứu Thế trong nhiều trang sách đã nhắc nhớ đến người mẹ của mình vừa như để biết ơn vừa có phần rất đỗi tự hào:
“ Chiều 28 tháng 4, 1975, vừa kết thúc Thánh Lễ bên nhà thờ Phan Xi Cô Đakao, cha chủ sự chúc bình an xong và mời mọi người chạy xuống khu nội cấm của Tu Viện. Tôi lúc ấy 16 tuổi, không biết sợ là gì, chỉ nghĩ đến gia đình mình bây giờ chắc đang bấn cả lên vì không thấy thằng con út đâu. Tôi đã vượt thoát ra cổng nhà thờ, nép sát lề đường để chạy vội về nhà mình. Vào được nhà rồi, tôi chạy ào vào phòng giữa, nơi có đặt bàn thờ gia đình, tôi thấy ba tôi, các chị và anh tôi đang ngồi sụp xuống nền nhà, nép sát vào nhau đọc kinh râm ran. Còn mẹ tôi mừng rỡ chạy đến ôm chầm lấy tôi mừng rỡ…
…Mẹ tôi chưa kịp hoàn hồn thì tới phiên chị Năm của tôi cũng vừa về tới. Mẹ tôi lại ôm chầm lấy chị tôi, miệng vẫn đang đọc rất to: “ …cầu cho chúng con là kẻ có tội…” Tôi thấy mẹ tôi giống như đang điểm danh từng người con trong nhà, khi thấy chỉ thiếu có mỗi chị Cả tôi đang ở với chồng con bên Phú Nhuận, mẹ tôi mới tạm yên tâm để kết thúc lời Kinh với Mẹ Maria: “ Lạy Chúa Giê Su, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con….Amen” ( Lm Lê Quang Uy C.SsR – Chuyến Đi Vạn Hành – Tập 5 ).
Người mẹ nào thì cũng thương yêu con mình và với những bà mẹ có con trai, phần đông đều muốn chúng yên bề gia thất, có con để nối dõi tông đường…Riêng với mẹ của cha Uy thì khác, bà chỉ muốn đứa con trai của bà… đi Tu và tỏ ra dứt khoát khi từ chối việc cưới hỏi tưởng như đã gần kề:
“ Đấy, cái giai thoại trong gia đình về…tôi là như thế. Tôi cứ ngỡ chỉ là giai thoại, ngờ đâu đến một ngày, năm tôi 27 tuổi, đứng khoanh tay ngỏ ý xin ba mẹ tôi đi hỏi cưới người bạn gái đã “ thâm niên” thì mẹ tôi xoay ngang câu chuyện, gạt phắt đi, chẳng phải vì không ưng ý cô ấy vốn là một thiếu nữ nết na, gia giáo mà chỉ vì: “ Cậu phải đi tu, tôi đã mơ như thế là đúng như thế”
…Kinh khủng quá ! Đã thế, ba tôi mọi khi có tiếng nói quyết định của một gia trưởng uy quyền, lần này lại lẳng lặng đứng lên đi làm một…điếu thuốc lào ! Thật khổ thân tôi…
…Dằng dai mãi, bên ấy không thấy động tĩnh gì, chắc cũng sốt ruột. Cô bạn gái của tôi nhờ người quen biết gia đình tôi hỏi han và cuối cùng cũng biết được đầu đuôi. Cô ấy không lộ chuyện ra, âm thầm xin đi Linh Thao cả tuần. Đùng một cái, cô ấy mời tôi đến nhà và thổ lộ tất cả: “ Uy đi tu là đúng rồi đấy ! Mà mình cũng sẽ đi tu ! Mình đã cầu nguyện và lắng nghe được Tiếng Chúa. Uy và mình sẽ chẳng lập gia đình với bất cứ ai. Chỉ có con đường TU mới đem lại hạnh phúc cho cả hai và cho mọi người…” Thế là chấm hết ! Chấm than hẳn hoi” ( Chuyến Đi Vạn Hành đã dẫn ).
Bà mẹ nằm mơ thấy con mình không những…phải đi TU mà còn phải trở thành một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ? Chàng thanh niên đang là sinh viên Đại Học Kiến Trúc ấy tìm hiểu ơn gọi là một ứng sinh ĐCV thánh Giu Se nhưng phải thi hành nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong trước đã. Thế nhưng khi nói với mẹ chuyện ấy thì bà tỏ ra không vừa ý:
“ Lại trở về với chuyện của mẹ tôi. Khi biết tôi đã quy phục và được nhận vào vào Đại Chủng Viện, bà vẫn cằn nhằn: Tôi nằm mơ rõ ràng cậu vào DCCT chứ có phải đi chủng viện đâu ? Tôi chỉ biết chống chế: “ Tu đâu cũng là tu, mẹ ơi ! Sao lại phải đi tu Chúa Cứu Thế mới được ? Các cha bên ấy đang còn phải đi …tĩnh tâm dài hạn, ai mà dám nhận người vào Dòng đâu ? Có lẽ mẹ tôi sợ cậu út lại giở chứng, giở quẻ nên đành im lặng chờ cơ hội !…
…Cho đến năm 1989, bất ngờ tôi gặp một anh đang tìm hiểu Ơn Gọi DCCT , tôi bán tín bán nghi, hỏi thăm cha Tiến Lộc mới biết Nhà Dòng vẫn đang âm thầm nhận người đi tu. Tôi mừng quá, vội xin chuyển hướng, cha Vũ Khởi Phụng nhận ngay vào Khóa Dự Tập. Đến lúc ấy tôi mới thấy tin vào lời giải mộng của mẹ tôi, kỳ diệu thật !…
…Ngày tôi báo tin vui được nhận vào Nhà Tập DCCT thì ba tôi đã qua đời tròn ba năm, mẹ tôi rớm nước mắt bảo: “ Thôi, bây giờ mẹ có đi theo ba về với Chúa cũng được rồi” ( Chuyến Đi Vạn Hành – đã dẫn ).
Nghe câu nói của bà mẹ cha Uy, bất giác tôi liên tưởng tới lời tiên tri Simeon khi gặp Đức Maria và thánh Giu Se dâng con vào đền thờ: “ Lạy Chúa, giờ đây đầy tớ Chúa được ra đi bình an vì con mắt tôi đã thấy ơn cứu rỗi, Chúa đã dành cho Dân Người” ( Lc 2, 29 -31 ). Việc…nằm mơ của người mẹ ấy, tôi cho đó cũng chính là Thánh Ý Chúa đã quan phòng xếp đặt cho công tác Mục Vụ thích hợp của cha Uy sau này đó là Bảo Vệ Sinh Sản, Tĩnh Tâm cho Giới Trẻ về những vấn đề gai góc của thời đại v.v…
Tôi quan niệm rằng cả trong lãnh vực đời thường cũng như đời tâm linh, không có gì là ngẫu nhiên, tình cờ, tất cả đều tuân thủ theo định luật Nhân Duyên Quả Báo. Sự ra đời và hiện hữu của bất cứ con người nào đều có duyên phận của nó và thánh Augustin, tiến sĩ Hội Thánh với bà mẹ Monica nổi tiếng của ngài là một trong những trường hợp đó.
Thánh Augustin ( 354 – 430 ) là một giáo phụ trổi vượt về lãnh vực nội tâm, đã được triết gia Karl Jaspers hết lời ca ngợi: “ Ở đây thấy muôn vàn kiểu nói bất hủ về đời sống tâm linh; ra như những gì thuộc tâm linh sâu kín đã được diễn tả thành ngôn ngữ linh động. Thực vậy, đây là một triết lý về nội tâm được suy tư rất sâu xa và rất thú vị mà triết học xưa chưa hề biết tới” ( GS Lê Tôn Nghiêm – LSTHTP. Q.II ).
Mỗi thời đại, đều có những thánh nhân xuất hiện và ẩn khuất phía sau vị thánh ấy là…những bà mẹ. Bà Monica là tấm gương sáng rỡ của Giáo Hội Công Giáo về sự kiên trì cầu nguyện và lòng cậy trông cho Ơn Gọi của con mình ngay cả trong những giấc chiêm bao: “ Và từ trên cao, Chúa đã giơ tay kéo linh hồn con ra khỏi vực sâu tăm tối đó; đang khi mẹ con là nữ tỳ trung tín của Chúa, khóc lóc trước mặt Chúa về con nhiều hơn các bà mẹ khóc con mình đã chết. Vì nhờ tinh thần đức tin mà người đã lãnh nhận nơi Chúa, người thấy con đã chết. Và Chúa đã nghe lời người, Lạy Chúa, Chúa đã nghe lời người và đã không khinh chê nước mắt mà người đã đổ ra tưới mặt đất dưới chân người, khắp nơi người cầu nguyện. Chúa đã nghe lời người…Vì bởi đâu mà có giấc chiêm bao, để Chúa yên ủi người, đến nỗi người lại thỏa thuận cho con sống cùng nhà, ăn cùng bàn với người ? Ban đầu, người không muốn điều đó, vì gớm ghét và ghê tởm những xúc phạm do lạc thuyết của con gây nên. Vậy, trong giấc chiêm bao, người đã thấy mình đứng trên một cái thước gỗ, một thanh niên sáng rực đi với người, vui vẻ và tươi cười với người, đang khi người buồn rầu, chán nản. Thanh niên hỏi người về lý do buồn rầu đó và nước mắt hàng ngày, để dạy bảo người, như sự có thường xảy đến, người khóc cho sự hư đi của con. Thì thanh niên truyền cho người hãy yên tâm và bảo người hãy để ý mà nhìn xem: người ở đâu con cũng ở đó. Người nhìn xem và thấy rằng: Con đứng cùng người trên cùng một cái thước…
…Bởi đâu có cuộc chiêm bao đó, nếu không phải là vì Chúa đã để tai nghe lòng dạ người sao ? Ôi ! Thiên Chúa tốt lành và toàn năng ! Chúa chăm sóc từng người chúng con như thể Chúa chỉ chăm sóc có một mình nó. Và Chúa chăm sóc mọi người như từng người một” ( Saint Augustin – Tự Thuật ).
Quả thật, Thiên Chúa là Đấng nhân từ, cao cả và quyền năng, Ngài chăm sóc từng người, không hề bỏ sót một ai dù kẻ ấy có tội lỗi, xấu xa đến đâu. Mặc dầu vậy, Thiên Chúa vẫn đòi hỏi ở nơi mỗi người lòng tin và sự cậy trông bền vững. Chính đức tin và lòng cậy trông ấy đã khiến cho thánh Monica có thể vượt qua bao gian lao, nguy hiểm để cộng tác với Ơn Chúa cho việc trở lại của con mình:
“ Ôi, Chúa là hy vọng của con từ tuổi thanh xuân. Đối với con, lúc đó Chúa ở đâu và Chúa ẩn mình nơi nào ? Há chẳng phải Chúa đã dựng nên con , đã làm cho con khác loài thú bốn chân và khác hơn chim trời hay sao ? Nhưng lang thang trong tăm tối và trên con đường trơn trượt, con tìm kiếm Chúa ở ngoài con nên con không gặp được Chúa của lòng con. Con đã chìm tận đáy biển và đã mất hết tín nhiệm và hy vọng tìm được chân lý…
…Được lòng đạo thêm sức mạnh, mẹ con đã đến với con, ngài vượt biển hàng ngàn để theo con và trong mọi cơn nguy khốn, ngài được Chúa hộ phù. Vì trong những lúc gian nan của cuộc vượt biển, ngài đã khích lệ các hành khách chưa quen vượt biển. Khi họ lo sợ, ngài đã hứa với họ là sẽ được tới bến bình an, vì Chúa đã hứa cho ngài sự ấy trong một thị kiến.” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).
Trong cuộc hành trình đức tin của Dân Chúa, chúng ta thấy luôn có những thị kiến hay nói theo đời thường là giấc mộng. Đối với Monica, bà tin những giấc mộng ấy đến từ Chúa và chính vì tin tưởng như thế nên bà đã có được vững tâm trong những ước nguyện của mình là muốn con được Ơn Trở Lại và…làm Thánh:
“ Người ta hằng thúc giục con kết bạn. Con đã cầu hôn và hai bên đã ước hôn. Trong việc này, mẹ con hành động mạnh nhất, hầu sau khi kết bạn, con được chịu Phép Thánh Tẩy Cứu Độ. Ngài vui mừng thấy con mỗi ngày một xứng đáng với Nhiệm Tích đó và trong đức tin của con, ngài nhìn nhận là ước nguyện của ngài và lời hứa của Chúa đã được thực hiện…
…Thật vậy, theo lời con xin và theo ước nguyện của mẹ con, hàng ngày, ngài khẩn khoản kêu xin Chúa dùng một thị kiến tỏ cho ngài biết một chút về cuộc hôn phối tương lai của con nhưng Chúa đã không hề ưng thuận. Ngài đã nhìn thấy những hình ảnh hư ảo và kỳ quái, như khi tâm thần người ta yên trí quá về việc gì thì thường phát xuất những hiện tượng như vậy. Ngài kể cho con nghe, nhưng ngài không tin tưởng như thường lệ, khi Chúa mạc khải cho ngài, ngài còn khinh thường các hình ảnh đó nữa. Ngài bảo là ngài nhận thấy con không biết do một cảm thức nào mà lời nói không thể tả được, một sự khác biệt giữa các mạc khải do Chúa mà đến và các mơ mộng của tâm thần ngài…
…Tuy nhiên, người ta thúc giục kết hôn nhưng còn thiếu hai năm mới tới tuổi kết bạn. Vì chị ta vừa ý con, nên chỉ còn chờ đợi” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).
Con đường thực hiện tâm linh, tất cả chỉ hệ tại ở việc biết vâng theo Thánh Ý Chúa. Tuy nhiên việc vâng theo Thánh Ý ấy thật sự không hề dễ dàng chút nào bởi lẽ nó hoàn toàn trái ngược với những dự tính, nguyện vọng của con người. Thánh Augustin khi chưa được Ơn Trở Lại, ngài vẫn tính đến chuyện kết hôn và sống cuộc sống như bao người khác. Thế nhưng Ý Chúa nhiệm mầu đã dẫn dắt vị giám mục tương lai này đi theo Con Đường hoàn toàn khác đó là Con Đường Từ Bỏ của Đức Ky Tô:
“ Vậy con vội vã trở lại chỗ Alypius ngồi vì khi đứng dậy ra đi, con đã để sách Tông Đồ lại đó. Con cầm lấy, mở ra và đọc thầm đoạn thứ nhất mắt con bắt gặp: Không phải trong chè chén say sưa, trong dâm dật và phóng đãng, trong kình địch và ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô và đừng lo toan về xác thịt cho thỏa các đam mê. Và con không muốn đọc thêm nữa vì thấy không cần. Thật vậy, con vừa đọc xong câu đó thì như có một ánh sáng an bình tràn vào lòng con, làm tan biến mọi tối tăm của sự nghi ngờ” ( Thánh Augustin – Tự Thuật đã dẫn ).
Cái khoảnh khắc đánh động tâm trí thánh Augustin theo như lời kể của ngài là khi đọc được đoạn Kinh Thánh về sự Từ Bỏ để theo Đức Ky Tô. Thế nhưng thực ra để có được sự… đánh động đó hoàn toàn không có chi là ngẫu nhiên, hay tình cờ mà ngài đã phải trải qua một quá trình nỗ lực tìm kiếm lâu dài cùng với ước nguyện lớn lao của người mẹ. Có thể nói, nếu không có ước nguyện lớn lao cùng với đức tin và lòng cậy trông của người mẹ kiên cường ấy thì con đường Nên Thánh của Augustin cũng khó mà thành tựu?
Việc trở lại và nên thánh của Augustin có phần đóng góp to lớn của bà Monica là điều không thể phủ nhận và cũng vì điều đó đã khiến bà được chung phần niềm vui cao cả với người con yêu dấu của mình:
“ Chúng con đã bỏ đó mà đi tới chỗ mẹ con và kể cho người biết để người vui mừng. Chúng con đã kể công việc đã xảy ra như thế nào: Người hân hoan, đắc chí và tán tụng Chúa, Đấng “ quyền năng làm được mọi sự” một cách phong phú hơn điều chúng con cầu xin và nghĩ tưởng vì nơi Con Chúa đã ban cho người nhiều hơn người đã xin, qua những lời than thở và bao nước mắt thống khổ. Vì Chúa đã làm cho con trở lại với Chúa một cách hoàn toàn, đến nỗi con không còn mơ màng gì đến vợ con hay một hy vọng nào nữa, con đã đứng trên “ Luật Đức Tin” mà bao năm trước đây, Chúa đã cho người thấy trong một thị kiến. Chúa đã đổi tang tóc của người ra vui mừng quá đỗi, quá điều người ước ao và quý giá, thanh tịnh hơn niềm vui mừng mà người chờ đợi ở con cháu phần xác của con” (Thánh Augustin – Tự Thuật đã dẫn ).
Theo lời kể của chính thánh Augustin thì việc trở lại của ngài là do được thúc đẩy bởi lời thánh Phao Lô về sự từ bỏ, nguyên văn như sau: “ Phải như thế vì anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy vì hiện nay ngày Thiên Chúa Cứu Độ đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sống để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng cũng không cãi cọ, ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” ( Rm 13, 11 -14 ).
Để sống đời từ bỏ tức “ Mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô” thì không có cách nào khác ngoài ra là phải coi thế gian, ngay cả thân xác này cũng chỉ là thứ hư phù, sinh diệt, có đấy rồi liền mất đấy: “ Sự sống của anh em là chi ? Chẳng qua chỉ như một chút hơi nước. Hiện ra một lát rồi lại tan mất” ( Gc 4, 14 ).
Sự sống vật chất, thế gian chỉ là hư ảo, bởi vậy thánh Augustin khi trở lại như ngài nói không màng gì đến chuyện vợ con cũng như có chút hy vọng gì ở cõi đời này nữa. Với thánh Monica cũng vậy, trước đây ngài vẫn ước ao được chôn cất tại quê hương bản quán, nhưng sau việc trở lại của thánh Augustin và với Ơn Chúa, ngài đã từ bỏ ý định ấy:
Trong giờ phút lâm chung, thánh Monica đã trối lại cho các con đang tề tựu bên giường: “ Các con hãy chôn mẹ các con ở đây”. Con thinh lặng và ứa nước mắt. Nhưng em con nói mấy lời tỏ ý ước ao thấy ngài chết tại quê nhà hơn là ở nơi tha hương này. Nghe thấy vậy, ngài tỏ vẻ không bằng lòng, ngài quắc mắt nhìn em con, vì đã có những ý tưởng như vậy, rồi ngài nhìn con mà nói: “ Con xem, nó nói như vậy đó. Đoạn ngài bảo cả hai chúng con: Các con chôn xác này ở đâu cũng được, các con đừng quá lo về nó, mẹ chỉ xin các con một điều là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).
Cả một đời vất vả, gian lao chỉ với niềm ước ao là thấy con mình bỏ đường tà vạy để trở về với Chúa nhưng người mẹ ấy trong giây phút lìa đời lại chỉ xin các con một điều là hãy nhớ đến mình trong lời cầu nguyện trước Bàn Thờ Chúa. Ôi, đức tin và tấm lòng của người mẹ ấy mới đẹp lòng Chúa biết bao ? Bởi suy cho cùng, con người ta sinh ra trong cõi đời này rồi ra ai mà chẳng phải chết. Nhưng chết rồi đi đâu ? Về đâu ? Thánh Augustin và mẹ ngài là bà Monica đã trải qua cuộc đời dương thế với tất cả lòng tin và niềm cậy trông, giờ đây đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng, đó chẳng phải là niềm hy vọng của tất cả những tâm hồn thiện lương trong bất cứ truyền thống tâm linh nào hay sao ?
Các truyền thống tâm linh đều có cùng một mục đích đó là để giải quyết rốt ráo vấn đề sinh tử, tử sinh. Đại sư Hám Sơn ( 1546 – 1623 ) tục danh Đức Thanh là một thiền sư danh tiếng của cả hai truyền thống Thiền Tông và Tịnh Độ Tông vào cuối thời nhà Minh ( Trung Quốc ). Ngài được coi là một Thánh Tăng ngang hàng với 04 vị đại sư khác là Từ Bá Đạt Quán, Vân Thê Châu Hoàng và Ngẫu Ích Tri Húc. Sau khi nhập diệt, sư đã để lại nhục thân không bị hư thối và hiện đặt tại Chùa Tào Khê cùng với nhục thân của đức lục tổ Huệ Năng cho tín hữu thập phương chiêm bái.
Cũng như những vị thiền sư nổi tiếng khác, ngay từ khi còn rất nhỏ, Đức Thanh đã có nỗi ưu tư về lẽ sống chết ở đời : “ Khi tôi lên bảy, mẹ tôi cho tôi đi học. Khi ấy tôi có một người cậu thương tôi lắm. Một hôm, trước khi tôi đi học về, cậu chết. Khi tôi thấy cậu nằm bất động trên giường, cố dấu tôi về cái chết của cậu, mẹ tôi nói: Cậu ngủ, con muốn đánh thức cậu dậy cũng được. Nghe vậy, tôi lên tiếng gọi cậu mấy lần nhưng cậu chẳng hề đáp. Thấy vậy, mợ tôi quá đau khổ, gào lên: Hỡi trời ơi, mình đã đi đâu rồi ? Bàng hoàng quá, tôi hỏi mẹ: Cậu nằm ngay đó mà sao mợ lại bảo là cậu đã đi ? Lúc ấy, mẹ tôi nói: Cậu con chết rồi ! Chết rồi về đâu ? Tôi hỏi và từ đó câu hỏi ấy đã ăn sâu vào tâm trí tôi” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập ).
Chính câu hỏi: “Chết rồi về đâu” ? ấy đã khiến cậu bé Đức Thanh dấn bước trên con đường Tu Tập để tìm cho ra câu trả lời. Tuy nhiên, đó là câu chuyện về sau và câu chuyện này có liên quan mật thiết đến bà mẹ tuyệt vời của đại sư Hám Sơn:
“ Khi lên tám, tôi được gửi trọ tại nhà một người họ hàng ở bên kia sông để gần trường học hơn. Mẹ tôi cấm không cho về nhà nhiều hơn là mỗi tháng một lần. Thế nhưng một hôm, sau ngày nghỉ hàng tháng, tôi không chịu trở lại trường. Khi tôi bảo tôi không thể rời bà được, bà nổi xung thiên, bà đánh tôi và đuổi tôi ra bờ sông. Nhưng tới đó tôi vẫn không chịu rời bà để lên đò. Đang cơn giận, mẹ tôi túm lấy tóc tôi và ném tôi xuống sông, rồi quay về nhà mà không một lần ngoái lại. Bà tôi có mặt gần đó kêu cứu, nhờ thế tôi thoát chết. Cuối cùng, khi tôi về nhà, mẹ tôi hét: Để cái đồ vô tích sự đó sống làm gì ? Thà nó chết chìm còn hơn ! Sau đó bà đánh đòn tôi và định đuổi tôi đi. Lúc ấy, tôi cho rằng mẹ tôi quá nghiêm khắc và tàn nhẫn, nên tôi quyết không về nhà nữa…
…Sau đó, tôi được biết rằng mẹ tôi nhiều lần đứng khóc một mình trên bờ sông. Khi bà tôi biết việc đó,bà quở trách mẹ tôi. Lệ tuôn trào lên má, mẹ tôi đáp: Con phải làm cho nó vượt qua được cái tính quá đa cảm để nó có thể học hành nghiêm nghị” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).
Bà mẹ để tâm đến việc học hành của con, muốn nó được công thành danh toại với thiên hạ. Thế nhưng với Đức Thanh, ngay khi chỉ là một thiếu niên đã có chí hướng thoát tục để bước vào Con Đường Tâm Linh hầu vĩnh viễn thoát khổ. Trong một lần kia khi theo mẹ lên chùa, chợt nghe một ông tăng tụng Kinh Phổ Môn ( Pháp Hoa ) và nhờ vậy đã có một ý thức dù còn mờ nhạt về sự vô ích của con đường học vấn mà mẹ muốn mình theo đuổi:
“ Vào năm 1555, tôi lên mười. Mẹ tôi ép tôi học dữ quá, khiến tôi buồn lắm. Tôi hỏi bà: Sao con phải học ? Bà đáp: Để đạt được một địa vị cao trong chính phủ ! Tôi hỏi tiếp: Thế sau này con có thể đạt được địa vị như thế nào ? Bà đáp: Con có thể bắt đầu bằng một địa vị thấp và rồi biết đâu có thể lên tới Tể Tướng. Tôi nói: Dù cho con có trở thành Tể Tướng đi, rồi sao nữa ? Bà đáp: Người ta chỉ có thể lên tới đó !
Nghe mẹ nói như vậy, Đức Thanh thoáng suy nghĩ rồi đáp: “Làm một công chức cao cấp thì có ích gì ? Làm việc cả đời, vất vả, khổ cực để chẳng được gì thì thật là vô ích. Con muốn đạt được một cái gì đó có giá trị vĩnh cửu”. Với một cậu bé mới lên mười mà đã có quan niệm về giá trị đích thực của hạnh phúc như thế quả là hy hữu. Tuy nhiên quan niệm ấy lại rất tương ưng với Lão Tử, một bậc đại triết sống cách đó đã hàng ngàn năm về Con Đường Đạo:
“ Theo học, ngày càng thêm
Theo Đạo, ngày càng bớt
Bớt rồi lại bớt, đến mức vô vi”
( Vi học nhật ích – Vi Đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, Dĩ chí ư vô vi )
ĐĐK chương 48
Cái học của người đời mục đích chỉ để thu thập kiến thức tức…thêm vào. Trái lại, theo Đạo thì cần phải bớt, bớt mãi đến chỗ Vô Vi có nghĩa có làm nhưng không hề chấp chước vào việc làm tức không còn thấy…có một Cái Tôi ( Ngã Chấp ) nữa…
Vào năm Đức Thanh 12 tuổi có ý xuất gia, tuy cha không đồng ý nhưng mẹ lại chấp thuận và từ đó Hám Sơn dấn thân trên đường tu tập, trải qua vô số trở ngại, bệnh tật, tù đầy, bị đánh đập, tra khảo nhưng vẫn bền tâm nuôi dưỡng lòng khát khao lìa bỏ thế giới khổ đau này. Trong một giấc mộng, ngài được đưa lên tới Cung Trời Đâu Xuất nghe Bồ Tát Di Lặc giảng kinh:
“ Theo chân ông tăng, tôi leo những bậc lên một bục cao, tôi đứng lặng ở đó, mắt nhắm, thấy vừa hồi hộp vừa hoan hỉ. Nghe tiếng chuông ngân, tôi thấy Di Lặc Bồ Tát đã lên gần đến Tòa. Tôi đảnh lễ, gương mặt Ngài rực rỡ ánh vàng, không gì trên thế gian có thể sánh được. Rõ ràng tôi là khách danh dự và Di Lặc Bồ Tát sẽ giảng kinh này đặc biệt cho tôi. Tôi quỳ xuống và mở Cuốn Kinh ra thì nghe Ngài nói: Phân Biệt là Thức. Vô Phân Biệt là Trí. Dựa vào Thức là Nhiễm. Dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có sinh tử. Tịnh chẳng có chư Phật. Bỗng nhiên cả thân lẫn tâm thấy rỗng không và tôi tỉnh giấc với tiếng Ngài còn vẳng bên tai. Từ ấy, tôi thấu triệt được sự dị biệt giữa Thức và Trí. Tôi hiểu tôi đã lên tới Cõi Trời Đâu Xuất, cung điện của Đức Di Lặc” ( Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).
Đại sư Hám Sơn tu và đắc đạo, được vua ban cho Đại Tạng Kinh và ngài cũng muốn về thăm song thân khi ấy vẫn còn sống. Vào năm 1589 khi ấy đại sư đã 40 tuổi, ngài làm một bài kệ, tỏ ra đã chứng đắc thâm sâu về Thiền:
“ Ngày ngày sóng nổi ngập thái không
Chim cá cùng bơi một kính trong
Đêm qua trăng bỗng rụng bên trời
Sáng bừng như lẫn ngọc ly long”
Lập tức, tôi gọi thị giả và bảo ông ta: Bây giờ tôi có thể về quê, thăm cha mẹ được rồi. Báo Ân Tự ở quận nhà tôi, từ lâu nay đã xin trọn bộ Đại Tạng. Vào tháng mười tôi đi kinh sư để xin cho người đồng xứ. Hoàng đế ban cho trọn Bộ Đại Tạng. Theo hộ tống đến Long Giang, về đến Báo Ân Tự vào tháng mười một. Trước khi tôi về tới tháp, trong Chùa phóng quang suốt mấy ngày. Vào ngày Kinh về tới, ánh sáng hiển linh như một chiếc cầu vồng trải từ trời xuống đất. Tất cả tăng chúng đến nghênh Kinh đều đi qua ánh sáng này. Suốt các buổi lễ An Kinh, ánh sáng chiếu mỗi ngày không hề gián đoạn. người đến xem lên đến trên vạn mỗi ngày, từ khắp nơi đến chứng kiến phép lạ này. Tất cả đều cho đó là điềm hiếm có và lành…
…. Trong khi đó, mẹ già nghe tin tôi về, bà sai người đến hỏi xem khi nào tôi về thăm nhà ? Để trả lời, tôi nói là Triều Đình phái tôi hộ tống Kinh chứ không phải để về nhà. Tuy nhiên, nếu mẹ tôi có thể tiếp tôi một cách vui vẻ, không hề khổ não, như thể tôi chưa từng rời bà thì tôi sẽ ở lại nhà hai đêm. Khi mẹ tôi nghe những lời ấy, bà thốt lên: Đây thật là cuộc gặp gỡ “ bất ngờ” giống như tìm lại được một người nhà trong một kiếp khác. Quá hoan hỉ, làm sao tôi còn có thì giờ để đau khổ ? Ô, ta sẽ rất hài lòng gặp con ta dù chỉ trong một khoảnh khắc. Hai đêm ở nhà hơn ta mong mỏi quá nhiều…
….Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi vui quá, bà chẳng lộ vẻ buồn khổ gì cả. Nơi bà, tôi chỉ thấy niềm vui, điều này làm tôi ngạc nhiên lắm ! Vào buổi chiều, các huynh trưởng trong họ hàng đến, một người trong họ hỏi: Thầy đến bằng thuyền hay bằng đường bộ ? Mẹ tôi lập tức trả lời: Nói bằng thuyền hay bằng đường bộ là ngụ ý gì vậy ? Người họ hàng nói: Điều tôi thực sự muốn biết là thầy ấy từ đâu về nhà ? Mẹ tôi đáp: Từ “ Không” trở về với chúng ta. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe bà nói vậy, trong cơn ngạc nhiên tôi nói: Chẳng lạ gì mà bà cụ cho tôi Đi Tu ! Đoạn tôi hỏi bà: Từ khi con đi khỏi nhà, mẹ có nghĩ tới con không ? Bà nói: Sao không cho được ? Tôi bèn hỏi: Thế mẹ làm gì để khuây khỏa ? Bà đáp: Thoạt đầu mẹ cũng không biết làm gì ! Rồi nghe người khác bảo rằng con đang ở Ngũ Đài Sơn. Mẹ hỏi một thầy tăng, nơi đó ở đâu ? Thầy bảo, ở ngay dưới Bắc Đẩu. Thế là mẹ đảnh lễ Sao Bắc Đẩu và niệm Danh Hiệu Bồ Tát. Sau đó mẹ thấy khuây khỏa hơn và không còn nghĩ tới con nữa ! Rồi thì mẹ cho là con đã chết rồi, với mẹ không còn khổ não, không còn nghĩ đến con. Bây giờ mẹ gặp con như thể trong một kiếp khác.” ( Thiền Đạo Tu Tập – đã dẫn ).
Qua 03 câu chuyện về 03 người mẹ tuyệt vời trên đây cho thấy chính tình thương yêu của các bà dành cho con của mình đã giúp họ trở nên những con người xuất chúng, hơn nữa…là những vị Thánh ! Tuy nhiên có một Bà Mẹ còn trên cả tuyệt vời nữa bởi vì Ngài khác hơn mọi bà mẹ khác. Những bà mẹ trần gian quả là có tình yêu thương con cái nhưng chỉ là khi chúng còn thơ ấu, bé nhỏ, biết vâng lời… nhưng khi đã lớn khôn, lập gia đình riêng thì khi ấy hầu như tình yêu thương không còn ! Mặt khác những người mẹ trần gian này dù thương con đến mấy nhưng lại không có khả năng đầy đủ để giúp chúng khi cần. Trái lại Đức Maria là một Người Mẹ vừa có lòng từ bi vô hạn lại có quyền lực mạnh mẽ hầu cứu giup con cái mọi lúc, mọi nơi khi chúng ta kêu cầu đến Ngài !
Sở dĩ Đức Maria có quyền lực mạnh mẽ như thế bởi vì Ngài là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc: “ Ngôi Hai bắt đầu việc Cứu Chuộc với sự ưng thuận của Đức Mẹ, khi đã long trọng hỏi ý kiến và Đức Mẹ đã đồng ý chấp nhận. Đến sau, Người cũng không thực hiện việc Cứu Độ nếu không có sự ưng thuận và sự chứng kiến của Đức Mẹ; Bởi Đức Maria đã cùng chịu khổ, cùng chung chí hướng với Chúa Ky Tô. Đức Mẹ đã xứng đáng trở thành Vị Khôi Phục Thế Giới hư hỏng và là Đấng ban các ơn mà Chúa Ky Tô đã tử nạn, đổ máu chuộc lại. Đứng kề Thánh Giá Chúa trên đồi Calve Mẹ đại diện cho toàn thể nhân loại. Trong các Thánh Lễ ngày nay, Chúa Cứu Thế cũng thực hành theo thể thức trên . Đức Maria, Người Nữ đã được báo trước từ Vườn Địa Đàng sẽ đạp giập đầu rắn Sa Tan, đang có mặt và luôn luôn hành động với Chúa Ky Tô. Muốn dự Thánh Lễ cho nên, cần phải thân mật kết hợp với Đức Mẹ” ( Thủ Bản Legio – Chương 8 câu số 88 ).
Tại sao cần kết hợp với Đức Mẹ để được Ơn Cứu Rỗi ? Xin thưa đó là vì Đức Maria đã được tiên báo từ muôn thuở là Người Nữ đạp giập đầu rắn Sa Tan: “ Đức Giehova phán với con rắn: Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ. Dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 14 -15 ).
Lời tiên báo này cho thấy một cuộc chiến tâm linh sẽ diễn ra giữa dòng dõi Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và dòng dõi của quỷ Sa Tan. Dòng dõi Đức Maria bao gồm những người tin theo Đức Giê Su Ky Tô. Còn dòng dõi Sa Tan là những người không tin, phục Ngài. Cuộc chiến tâm linh ấy tuy âm thầm nhưng hết sức khốc liệt diễn ra trong suốt lịch sử Cứu Độ, từ ngày xuất sinh nơi đời của Đức Giê Su Ky Tô cho tới thời tận cùng hiện nay.
Để khởi đầu cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, Đức Giê Su đã kêu gọi lòng tin và sự sám hối, ăn năn: “ Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần, các ngươi hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Sám hối và tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô luôn gắn bó mật thiết với nhau. Có thực lòng sám hối ăn năn chừa cải tội mình thì mới có thể có được lòng tin vào Tin Mừng, lý do bởi vì Tin Mừng của Đức Ky Tô là về Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại ( Lc 17, 20 -21 ).
Việc ăn năn, sám hối tội mình đó chính là Tu mà tu tức là sửa là cải thiện đời sống mình chứ chẳng phải điều chi khác. Cần phải TU thì mới có thể tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô, trái lại thì không. Cũng chính bởi đã nhận thức được ý nghĩa của việc TU như thế nên các bà mẹ được nêu trong thiên luận này mới mong mỏi cho con mình theo đuổi con đường Tu Trì hầu đạt đến hạnh phúc viên mãn Nước Trời.
Với các người mẹ trần gian đã thế thì Đức Maria Người Mẹ Tâm Linh cũng vậy, nhưng trổi vượt hơn rất nhiều. Ngài đã dâng Con Mình là Đức Giê Su để nên như một…tế vật dù biết là Người Con Chí Thánh ấy sẽ bị người ta giết chết cách vô cùng đau đớn. Suy tư về mầu nhiệm lớn lao này, thánh Ambrosio nói: “ Dưới chân Thánh Giá, khi Mẹ nhìn đến các thương tích của con với cặp mắt Mẹ Hiền. Điều Mẹ nghĩ tưởng không phải là cái chết của con yêu dấu nhưng là phần rỗi nhân thế” ( M.V Bernadot O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).
Đức Maria đã dâng con mình là Chúa Giê Su lên Chúa Cha như một…tế vật và muốn chúng ta là dòng dõi của Ngài cũng phải hiến dâng cuộc đời mình như vậy. Hiến dâng cuộc đời mình ở đây có nghĩa là TU mà Tu theo Chúa có nghĩa là Bỏ Mình, vui lòng vác thập giá theo Ngài ( Lc 9, 20 ).
Thập giá là một thứ khổ hình dành cho tử tội, như vậy, vác thập giá theo Chúa là hành vi hết sức khó. Tuy nhiên một khi Chúa Giê Su đã nói vậy thì phải đúng như vậy, có nghĩa phải vui lòng chịu khổ vì Chúa trong mọi hoàn cảnh thì mới có thể thoát khổ, không còn con đường nào khác ?
Trong những lần Đức Mẹ hiện ra trên khắp thế giới, Ngài chỉ có một Thông Điệp duy nhất đó là kêu gọi con cái mình hãy sám hối, ăn năn cải chừa tội lỗi, thế nhưng dường như người ta vẫn… bưng tai, nhắm mắt làm ngơ. Vào ngày 13/10/ 1980, Đức Mẹ hiện ra tại Nicaragua nói với một nông dân tên là Bernado Martinez: “ Con đã xin những điều không quan trọng. Hãy xin đức tin, để mỗi chúng con có sức mạnh để vác thánh giá của chúng con. Những đau khổ của thế gian này không thể nào cất khỏi chúng con. Những đau khổ chính là thánh giá chúng con phải chịu” ( Lm Rene’ Laurentin – Những Lần Hiện Ra Của Đức Trinh Nữ Maria ).
Đau khổ ở cõi thế gian này không thể kể xiết nhưng nếu thực tâm tin vào Chúa Giê Su Ky Tô, Đấng đến để cứu vớt những kẻ tội lỗi, bất toàn và hết lòng cậy trông nơi Đức Maria thì tất cả chúng ta sẽ được cứu thoát. Thánh Benado, tiến sĩ Hội Thánh nói: “ Theo chân Mẹ, bạn không lạc lối, kêu cầu Mẹ, bạn không thất vọng, nhớ tưởng Mẹ, bạn không mê lầm. Tựa váo Mẹ, bạn không sợ ngã. Mẹ chở che, bạn không khiếp sợ. Mẹ dẫn dắt, bạn không nản lòng thối chí. Nhờ Mẹ, bạn về tới bến” ( Sách Vàng của thánh G. De Monfort – Senatus Sài Gòn Xuất Bản )./.
Phùng Văn Hóa
( Thân tặng cha Giu Se Lê Quang Uy DCCT )