ĐỂ TƯ TƯỞNG CỦA CHÚA TRỞ THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA TA

Có những ngày bước vào nhà thờ, lòng chúng ta vẫn còn mang nặng nhiều chuyện, nhiều mối bận tâm chưa nguôi. Thử ngồi lặng lẽ một lúc, có lẽ chúng ta chợt nhận ra một điều: có lẽ trong đời sống, con người dễ bị lôi cuốn theo những cách suy nghĩ tiêu cực, ích kỷ, xa rời sự thật và tình yêu, những cách suy nghĩ mà Kinh Thánh gọi là ảnh hưởng của ma quỷ, mà nhiều khi ta không hề hay biết mình đang bị chúng chi phối: “Tên ác thần của đời này đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng, khiến họ không thấy bừng sáng lên Tin Mừng nói về vinh quang của Chúa Kitô, là hình ảnh Thiên Chúa” (2 Cr 4,4).

Bạn còn nhớ câu Thiên Chúa nói với tiên tri Isaia không? “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta, sấm ngôn của Thiên Chúa. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Isaia 55,8-9).

Chúng ta hãy cầu xin cho tư tưởng của Chúa Cha trở thành tư tưởng của mình, lời của Chúa Con trở thành lối sống của mình, và để Chúa Thánh Thần hành động qua chính việc làm hằng ngày của mình.

  1. Không phải để giấu kín, mà là để sống trong ta

Ba Ngôi Thiên Chúa không muốn ẩn mình xa cách chúng ta. Ngài muốn ở trong chúng ta, trong cách chúng ta nghĩ, cách chúng ta nói, cách chúng ta sống. Đó cũng là điều Thánh Phaolô nhắc: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Chúng ta không cần hiểu hết mọi sự về Thiên Chúa, điều đó vượt quá sức người, nhưng chúng ta có thể xin cho ý muốn của mình hòa làm một với ý muốn của Ngài. Điều này không phải thứ chúng ta có thể ra sức mà giành lấy được. Đó là một sự phó thác.

Nhìn lại các Tông Đồ, chúng ta thấy rõ điều đó. Trước khi Chúa Giêsu chịu chết, các ông vẫn còn giữ suy nghĩ riêng, còn muốn làm theo ý mình: “Ông Phêrô liền kéo riêng Ngài ra và bắt đầu trách Ngài: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16,22). Nhớ lại đêm Chúa bị bắt, ông Phêrô đã rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ, một phản ứng rất “người phàm”, rất bản năng. Nhưng Chúa Giêsu bảo: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Ngài sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần! Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó, mọi sự phải xảy ra như vậy” (Mt 26,52-54). Ngài chấp nhận uống chén đắng mà Chúa Cha đã trao: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26,42).

Phải đến khi Chúa về trời, các ông mới thật sự buông bỏ hết, chỉ còn giữ lại một điều: lòng yêu mến Ngài. Các ông ở lại, cầu nguyện, và phó thác hoàn toàn: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện…” (Cv 1,14). Và chính từ khi ấy, Chúa Giêsu, Đấng đã được tôn vinh, chia sẻ quyền năng vinh quang của Ngài cho các ông. Ngài từng hứa rằng “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm được những việc lớn lao hơn nữa” (Ga 14,12). Quả thật, qua tay các Tông Đồ, biết bao dấu lạ đã xảy ra: “Đến nỗi người ta đem cả những người đau ốm ra đường, đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phêrô đi qua, ít nữa là cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó” (Cv 5,15).

Đó là điều Chúa muốn cho chúng ta: khi ta bước đi trong đời sống của mình mà biết phó thác cho Thánh Ý Chúa, Ngài sẽ trao cho ta quyền năng trên muôn loài, đến độ, như lời Chúa Giêsu từng nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17,6).

  1. Ân sủng đến từ sự phó thác trọn vẹn

Khi ta thật sự nhận được ân sủng ấy qua sự phó thác hoàn toàn, ta có thể nói với một cái cây “hãy sinh trái” và nó sẽ sinh trái. Nhưng vấn đề là chúng ta bám víu vào quá nhiều thứ, vào quá nhiều “thần tượng” nhỏ nhặt trong đời, quá nhiều nỗi sợ. Ta còn chưa biết cách phó thác trọn vẹn nơi Chúa. Và có lẽ ta sẽ còn phải trải qua nhiều điều mới học được bài học khiêm nhường ấy.

Nhiều người đang sống trong lo sợ trước những gì sắp đến. Nhưng Chúa nói với các tông đồ khi Ngài đi trên mặt biển, cũng là nói với ta: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14,27), và chính Ngài là Đấng Phục Sinh đã nói với thánh Gioan: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,17). “Cơn thịnh nộ của Con Chiên” (Kh 6,16) không nhắm vào con người, mà nhắm vào chính sự dữ. Ngài sẽ khiến mọi sự thuộc về bóng tối không còn chỗ đứng, và đó là điều đáng mừng, vì khi ấy vinh quang Ngài đổ xuống sẽ vượt xa những gì ta có thể tưởng tượng. Như lời Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (Tv 23,4).

  1. Thay đổi từ bên trong

Chúng ta thường dành cả đời để cố thay đổi những gì ở bên ngoài: hoàn cảnh, người khác, thế giới quanh mình. Nhưng suốt hành trình bên các Tông Đồ, Chúa Giêsu lại chỉ chăm chú vào một điều, dạy bảo họ thay đổi từ bên trong: “Còn những cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính những cái ấy mới làm cho con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế; còn ăn mà không rửa tay thì không làm cho con người ra ô uế” (Mt 15,18-20). Ngài dạy họ buông bỏ chính mình để đi đến tình yêu, một tình yêu biết hiến dâng, biết hy sinh: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24) và: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,12-13). Chính tình yêu ấy mới có quyền năng thật sự trên mọi sự, bởi vì nơi đó có Thiên Chúa ngự trị. Đó là một tình yêu mang dáng dấp Thánh Thể, thầm lặng nhưng bền bỉ, kín đáo nhưng sâu xa.

Ngôn sứ Isaia đã diễn tả niềm vui ấy thật đẹp: “Phải, các ngươi sẽ ra đi mừng rỡ hân hoan, rồi lũ lượt kéo về bình an vô sự. Trước mặt các ngươi, đồi núi sẽ cất giọng reo hò, cây cỏ ngoài đồng sẽ vỗ tay. Cây bách, cây sim lớn mạnh thế tầm ma, để Chúa được lừng danh nức tiếng, được ghi nhớ ngàn năm và truyền tụng muôn đời” (Is 55,12-13). Khi ta sống “yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”, ta sẽ ra đi trong hân hoan, được dẫn đưa trong bình an, đến nỗi núi đồi cũng cất tiếng hát, cây cối ngoài đồng cũng như vỗ tay reo mừng, một dấu chỉ đời đời không bao giờ phai.

Chúa Giêsu đến thế gian “là để phá huỷ công việc của ma quỷ” (1 Ga 3,8). Chúng ta hãy để Ngài làm điều đó ngay trong chính con người chúng ta, vì Ngài là “Đường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14,6), và điều Ngài dành cho ta còn lớn lao hơn bất cứ điều gì ta có thể tự vẽ ra cho chính mình: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Ngài” (1 Cr 2,9). Rồi chúng ta sẽ ngỡ ngàng nhận ra điều đó “gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới” (Ep 3,20).

  1. Mẹ Maria, mẫu gương trọn vẹn

Không ai sống điều này trọn vẹn như Mẹ Maria. Cả cuộc đời Mẹ chìm trong cầu nguyện, gắn bó mật thiết với Thiên Chúa, đến độ Mẹ được huấn luyện để nghĩ, để nói, để làm theo đúng Thánh Ý Ngài. Mẹ đã cưu mang chính Thánh Ý ấy trong lòng mình, và khi sinh ra Chúa Giêsu, Mẹ cũng mang lại cho cả nhân loại Thánh Ý của Thiên Chúa. Là người con gái yêu dấu của Chúa Cha, là hiền thê của Chúa Thánh Thần, là Mẹ của Chúa Con, Ba Ngôi đã thật sự cư ngụ trong Mẹ. Và vì Mẹ cưu mang chính Đấng Tạo Hóa, nên có thể nói, cả vũ trụ cũng được cưu mang nơi Mẹ. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Chẳng phải Mẹ Maria là người đầu tiên trong số ‘những người nghe lời Chúa và làm theo’ sao? Và vì vậy, lời chúc phúc mà Chúa Giêsu dành cho người phụ nữ trong đám đông ‘Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa’ chẳng phải chủ yếu là dành cho Mẹ sao? Không còn nghi ngờ gì nữa, Mẹ Maria xứng đáng được chúc phúc bởi chính việc Mẹ đã trở thành Mẹ của Chúa Giêsu theo xác thịt, nhưng cũng là và đặc biệt là vì ngay từ lúc Truyền Tin, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa, bởi vì Mẹ tin tưởng, bởi vì Mẹ vâng phục Chúa, và bởi vì Mẹ đã ‘giữ’ Lời Chúa và ‘suy ngẫm Lời Chúa trong lòng’ và đã thực hiện điều đó bằng cả cuộc đời mình” (Thông điệp Redemptoris Mater – Mẹ Đấng Cứu Thế, 25.3.1987, phần I, số 3, đoạn 20).

Đó chính là điều Thiên Chúa cũng muốn dành cho mỗi người chúng ta: khi ta sống theo Thánh Ý Ngài, ta được thông phần vào chính sự sống và bản tính của Ngài, thoát khỏi những gì hư hoại do dục vọng trần gian gây ra, như lời thánh Phêrô từng viết: “Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Ngài đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian” (2 Pr 1,4).

Điều này được Chân phước Isaac xứ Stella, viện phụ dòng Xitô, thế kỷ XII, nói đến: “Chúa Giêsu, Đấng Lang Quân, đã nên một với Chúa Cha và nên một với Hội Thánh, là Hiền Thê của Ngài. Bất cứ điều gì nơi vị Hiền Thê còn xa lạ với bản tính thật của nàng, thì Đấng Lang Quân đã mang lấy và đóng đinh nó vào thập giá cùng với Ngài, gánh lấy tội lỗi của vị Hiền Thê và tiêu diệt chúng nơi thập giá đó. Đấng Lang Quân đã nhận lấy phận người nơi vị Hiền Thê, và trao lại cho nàng phần thần linh thuộc về Ngài. Đấng Lang Quân đã tiêu diệt những gì thuộc về sự dữ, đã mặc lấy trọn vẹn thân phận con người, và ban tặng cho vị Hiền Thê chính sự sống thần linh của Thiên Chúa” (trích bài giảng “Chúa Kitô sẽ không tha một tội nào nếu không có Hội Thánh”, bài đọc 2, giờ Kinh sách ngày Thứ Sáu, Tuần 23 Mùa Thường Niên).

Phêrô Phạm Văn Trung

Chia sẻ Bài này:

Related posts