Tiềm Thức ( Subconscious ) là thuật ngữ thuộc lãnh vực Tâm Lý Học và rất khó để nhận biết, nó không phải là Ý Thức, điều đó là tất nhiên nhưng đồng thời cũng không phải là Vô Thức. Mặc dầu rất khó để nhận biết nhưng Tiềm Thức lại có ảnh hưởng rất lớn không những trong đời sống thường nhật mà còn ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống đức tin của con người !
Như đã biết, Tiềm Thức không phải là Ý Thức, mặc dầu nó luôn bắt đầu từ Ý Thức và khi Ý Thức đã thuần thục thì nó sẽ chuyển dần vào Tiềm Thức như một thứ Kho Chứa ( Tạng Tâm ). Chính từ cái Kho Chứa ấy mà Tiềm Thức hướng dẫn và điều khiển đời sống con người theo cả hai khuynh hướng Thiện và Ác.
Để cho dễ hiểu, xin đưa ra ví dụ cụ thể về việc…lái xe: Ban đầu khi mới tập, ta sẽ dành gần như toàn bộ sự tập trung và ý thức của mình vào việc tập lái, đâu là chân ga, đâu là chân thắng và hướng đi trước mặt v.v…Cho đến khi việc lái xe trở nên thuần thục hơn, khi ấy ta không còn cần đến sự can thiệp của ý thức mà việc lái xe vẫn diễn ra cách dễ dàng, không còn căng thẳng. Lại nữa, trên đường về nhà, ban đầu chưa quen đường, quen ngõ, ta còn phải hết sức chú ý, phải đi đường nào, rẽ phải rẽ trái ở quãng nào …Thế nhưng khi đã quen thuộc rồi thì ta chỉ cần hành động dưới sự điều khiển của tiềm thức, chẳng cần phải chú ý gì cả !
Hành động theo sự điều khiển, hướng dẫn của Tiềm Thức như thế gọi là thói quen và thói quen ấy ở nơi con người gọi là Tập Quán. Còn ở nơi loài vật gọi là Bản Năng. Chính cái Tập Quán hay Bản Năng ấy, đã không ngừng chi phối, điều khiển toàn bộ đời sống của mọi sinh linh vạn vật.
Bởi vì hoạt động của Tiềm Thức sâu, xa và mang tính quyết định như thế nên nó cần được khám phá, hầu áp dụng vào đời sống tâm linh của chính mình. Điều nhất thiết cần có trong đời sống tâm linh đó là đức tin. Đức tin được ví như một thứ Chìa Khóa để mở ra cánh cửa bước vào Đạo và Đạo ấy theo quan niệm của minh triết Đông Phương là một Thực Tại không thể nói, không thể gọi tên:“ Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi thỉ. Hữu danh, vạn vật chi mẫu” ( Đạo ) mà có thể gọi được, không ( còn ) phải là Đạo thường. Danh ( mà ta ) có thể gọi được, không ( còn ) là Danh thường. Không tên là gốc của Trời Đất. Có tên là mẹ của Vạn Vật – Lão Tử ĐĐK chương một ).
“ Thường” ở đây là thường hằng, bất biến, không sinh không diệt. Chính bởi vì là…Đạo thường hằng như thế nên nó không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, văn tự, bởi vậy, đức Lão Tử mới đưa ra chủ trương về việc “ Học” thế này: “ Vi học nhật ích. Vi Đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn. Dĩ chí ư vô vi” ( Theo học, ngày càng thêm. Theo Đạo ngày càng bớt, bớt mãi cho đến không còn gì – ĐĐK chương 48 ).
Đối với Minh Triết Đông Phương thì “ Đạo” là một Thực Tại thường hằng bất biến không thể dùng ngôn ngữ, văn tự để đạt được. Còn với Đạo Chúa thì Đức Giê Su Ki Tô gọi “ Đạo” ấy là Đấng Cha và Ngài chính là Con Đường đến với Đấng Cha ấy: “ Ta là đường là sự thật là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).
Một khi Chúa Giê Su đã khẳng định mình là Con Đường duy nhất đến với Đấng Cha thì cần tin chắc thật vào điều ấy. Trái lại nếu không tin thì không bao giờ có thể bước đi theo Chúa trên con đường về với Cha ! Không đặt hết lòng tin vào Đức Ki Tô thì không bao giờ có thể…đến được với Đấng Cha có nghĩa nhận biết Thiên Chúa như đích thực Ngài Là ( Ego sum qui sum – Xh 3, 15 ).
Để nhận biết Thiên Chúa như đích thực Ngài Là thì phải có lòng tin vào Chúa Giê Su như một Con Đường của Sự Thật, của sự sống thần linh. Thế nhưng hiện nay, thần học lại chối bỏ đức tin ấy bằng cách đặt vấn đề “ Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo”. Với Ki Tô Giáo hay nói đúng hơn Giáo Hội Công Giáo từ trước tới nay vẫn tin rằng Chúa Giê Su là Đấng Ki Tô cũng gọi là Chúa Cứu Thế. Còn nay với thần học thì không còn tin như vậy nữa, Nước Trời mà Ngài rao giảng chỉ còn mang tính giải thoát chính trị nhằm đưa con người thoát khỏi cảnh nghèo đói, bất công xã hội:
“ Tin Mừng về Nước Trời đã là sự thông báo về một trạng thái mới của sự vật trên mặt đất. Một trật tự mới trong đó người nghèo không còn nghèo, những người đói sẽ được no và những người bị áp bức sẽ được giải phóng. Nói “ Nước Cha trị đến” cũng như nói ý cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” ( LM Vương Đình Bích – Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo ).
Vì lý do tại sao thần học lại có thể…dựng đứng việc Chúa Giê Su rao giảng một thứ Nước Trời mang tính giải phóng chính trị theo kiểu CS như thế ? Xin thưa đó là vì đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc giải nghĩa Kinh Thánh:
“ Nhiều Ki Tô Hữu trong nhiều thế kỷ đã hiểu sai về bản tính của Nước Trời do sự sai phiên dịch về thánh Luca ( 17, 20 ) như người ta thường thấy ở câu nói” “ Nước Thiên Chúa ở trong anh chị em” Ngày nay, tất cả những vị chú giải Thánh Kinh nghiêm túc, tất cả những người phiên dịch đều đồng ý rằng nên đọc: “ Nước Thiên Chúa ở với anh chị em, hoặc ở giữa anh chị em” ( LM Vương Đình Bích đã dẫn ).
Sai lầm của thần học không chỉ diễn ra trong đoạn ( Lc 17, 20 -21 ) về Nước Trời…ở giữa hay ở trong mà với toàn bộ Kinh Thánh, đặc biệt là Sách Sáng Thế về Tạo Dựng. Đang khi việc tạo dựng ấy là tạo dựng con người là Hình Ảnh Thiên Chúa ( St 1, 26 ) thì lại thành ra tạo dựng Thế Giới Vật Chất Hữu Hình. Chính do quan niệm sai lầm ấy mà Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại đã biến thành…Nước Trời Tục Hóa !!!
Nước Trời mà Đức Ki Tô rao giảng là một Tin Mừng lớn lao về một Thực Tại Tâm cần đặt hết lòng tin cùng với việc sám hối ăn năn tội mình: “ Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần. Các ngươi hãy ăn năn, sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Tin vào Tin Mừng của Đức Ki Tô có nghĩa là tin vào sự hiện hữu của Thực Tại Tâm cũng chính là Nước Trời mầu nhiệm nội tại ở nơi mỗi người.
Tin vào Đức Ki Tô luôn có nghĩa là tin sự hiện hữu của một Thực Tại Tâm mầu nhiệm, bất sinh, bất diệt. Thế nhưng để có thể có được đức tin ấy thì cần dốc lòng ăn năn, sám hối chừa cải tội mình. Có thực lòng sám hối, chừa cải tội thì mới có được đức tin vào Đức Ki Tô. Càng thực lòng sám hối tội mình bao nhiêu thì đức tin càng tăng trưởng bấy nhiêu, trái lại thì không. Thần học bởi cứ chấp nê vào việc giải nghĩa mà không sống các chân lý Thánh Kinh thế nên đức tin ngày càng thối thất và rồi mất hẳn: “ Văn tự làm cho chết, chỉ thần khí mới làm cho sống” ( 2C 3, 6 ).
Chân Lý vốn dĩ là một, dù là Đông hay Tây cũng vậy. Thần Khí mà thánh Phao Lô đề cập tới ở đây chính là một thứ Trực Giác vượt khỏi ngôn ngữ, văn tự, cái đã khiến cho con người ngày càng xa rời chân lý. Qua câu chuyện dẫn chứng về thiền sư Hương Nghiêm ( ? 898 ) sau đây cho thấy sự vô ích, nếu không nói đó là một trong những trở ngại lớn nhất trên con đường giải thoát tâm linh:
“ Sư quê ở Thanh Châu, từ nhỏ sư đã chán cảnh trần thế, sư bèn xuất gia và đến tham học ở nhiều nơi. Đầu tiên, đến tham học nơi thiền sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư học rộng, hiểu nhiều, thông suốt nhiều kinh điển, biện luận vô ngại, nhưng vẫn chưa Ngộ Đạo. Sau khi Bách Trượng thị tịch, sư đến ở với pháp huynh là thiền sư Qui Sơn Linh Hựu ( đại đệ tử của Bách Trượng )…
…Một hôm, sư đến tham vấn Qui Sơn, Qui Sơn hỏi: Ta nghe sư đệ ở chỗ sư Bách Trượng thông minh, lanh lợi, nhưng ta không hỏi về chỗ học hành, kinh sách. Giờ đây, hãy nói thử một câu: Khi cha mẹ chưa sinh xem. Sư không đáp được, bèn về lật hết các Kinh Sách nhưng vẫn không giải quyết được mối nghi tình này. Sư tự than rằng: Bánh vẽ chẳng no được cái bụng đói. Rồi đến xin sư Qui Sơn chỉ bảo nhưng bị Quy Sơn từ chối và bảo: Nếu ta nói, sư đệ sau này sẽ mắng ta vì ta nói là việc của ta, liên hệ gì đến sư đệ ? Sư tự than trách mình yếu kém, tự nói: Đời này thôi không học pháp nữa, làm ông tăng thường, lo cơm lo cháo để khỏi nhọc tâm. Sư về thất, đốt hết sách vở rồi đến từ biệt Quy Sơn ra đi…
…Sư vân du đến Núi Nam Dương, ở tại đây, sư hàng ngày làm ruộng, quét dọn tháp mộ của Quốc Sư Dương Huệ và chuyên tâm tu hành. Một hôm, khi đang quét lá, một viên sỏi bay vèo, đụng trúng khóm tre gây một tiếng cốc. Sư chợt Đốn Ngộ liền phá lên cười. Rồi trở về thất, tắm gội, thắp hương nhắm về hướng Quy Sơn mà đảnh lễ để cảm tạ.”
Chỉ nghe một tiếng… “Cốc” vang lên khi hòn sỏi bắn vào gốc tre mà Đốn Ngộ. Vậy cái Ngộ ấy là Ngộ về cái gì ? Đó là nhận biết Giác Tính hay còn gọi là Tánh Phật tức Tánh Biết vốn vẫn ở nơi mình mà mình không biết. Tánh Biết của Đại Thừa Phật Giáo ấy cũng là một với Đấng Cha mà Chúa Giê Su nói là đã biết, còn phàm phu chúng ta thì không: “ Các ngươi chẳng từng biết Ngài, nhưng Ta biết Ngài. Nếu Ta nói rằng Ta không biết Ngài thì Ta sẽ cũng là kẻ nói dối như các ngươi vậy. Song Ta biết Ngài, cũng giữ Đạo Ngài” ( Ga 8, 55 -56 ).
Chúa Giê Su nói Ngài…biết Cha và giữ Đạo Cha tức là đạo yêu thương đem đến Sự Sống Đời Đời: Chúa Giê Su nói với các tông đồ: “ Ngày đó các con sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Ai có các điều răn của Thầy và giữ lấy ấy là kẻ thương yêu Thầy. Mà ai thương yêu Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu thương người và tỏ mình ra cho người” ( Ga 14, 20 -21 ).
Chúa Giê Su yêu mến và hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa như là Người Cha thân yêu của mình; cũng vì thế Ngài đã thông biết mọi sự: “ Vào giữa kỳ lễ, Đức Giê Su lên đền thờ và giảng dạy. Người Do Thái lấy làm ngạc nhiên, họ nói: Ông này không học hành gì mà sao lại thông thạo chữ nghĩa như thế ? Đức Giê Su trả lời: Đạo lý Ta truyền dạy không phải là của Ta nhưng là của Đấng đã sai Ta. Ai vâng theo Thánh Ý thì sẽ biết rằng đạo lý ấy là bởi Thiên Chúa hay do Ta tự mình nói ra” ( Ga 7, 14 -17 ).
Qua lời dạy của Chúa Giê Su cho thấy, yêu mến Thiên Chúa thì phải vâng theo Thánh Ý và chính cái việc vâng phục ấy sẽ đem đến sự khôn ngoan đích thực mà thế gian không sao có thể có được. Thánh Phao Lô nói với dân thành Corinto: “ Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết sự gì khác ngoài Đức Giê Su Ki Tô mà là Đức Ki Tô chịu đóng đinh trên thập tự giá. Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn ngoan, hấp dẫn nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của thần khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lời lẽ khôn ngoan của phàm nhân nhưng vào quyền năng của Thiên Chúa…
…Thế mà điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành cũng là một lẽ khôn ngoan nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong” ( 1C. 2, 1 -6 ).
Lẽ khôn ngoan thế gian ở đây ám chỉ cho mọi thứ Triết Học gọi chung là Văn Tự ấy rút cục chỉ đưa đến…sự chết và sự chết mang tính tâm linh tác hại lớn lao do chính Thần Học gây ra đó là cái chết của Thiên Chúa ( The’ologie de la mort de Dieu ).
Thiên Chúa bị thần học…giết chết, đó chỉ là thứ Thiên Chúa của khái niệm triết học chứ không phải Thiên Chúa của Thực Tại Ngài Là. Thiên Chúa đích thực chính là Bản Thể Tình Yêu như thánh Gioan Tông Đồ đã tuyên xưng:
“ Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì sinh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai không có lòng yêu thương thì không nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa Là Tình Yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để nhờ Người Con ấy mà chúng ta được sống. Tình Yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ Chuộc Tội cho chúng ta” ( 1Ga 4, 7 -10 ).
Thiên Chúa đã yêu thương trước, còn về phần chúng ta thì có biết Thiên Chúa là Đấng nào đâu để mà…yêu ? Thế nhưng nhờ Đức Giê Su Ki Tô, chúng ta có được đức tin về Tình Yêu Thương của Thiên Chúa đối với mình. Đức giám mục Bossuet nói: “ Tin mình được Chúa yêu thương là điều khoái lạc biết bao !.
Tại sao tin mình được Thiên Chúa yêu thương lại là điều khoái lạc ? Bởi vì khi ấy dù có nghèo đói, khổ cực hay dù có vấp ngã phạm tội đi chăng nữa nhưng nếu vẫn tin mình được Thiên Chúa yêu thương che chở, nâng đỡ thì chẳng còn sợ hãi chi nữa ! Mặt khác, trong việc cầu nguyện, nếu chỉ dựa vào sức mình thì chắc chắn sẽ thất bại. Nữ tu Jean Baptiste C.P trong cuốn Tin ở Tình Yêu Thiên Chúa. ( La foi en l’Amour de Dieu ) đã viết: “ Không có lòng tin yêu làm nền tảng cho những cố gắng của mình thì linh hồn dù chí khí đến đâu cũng phải ngậm ngùi thất bại”
Nhất thiết cần có lòng Tin, Yêu trong việc phụng sự Thiên Chúa. Lý do bởi vì Ngài chính là Bản Thể Tình Yêu và khi đã hiểu Thiên Chúa như là Bản Thể ( Subtance ) như thế thì Ngài làm sao có thể tách rời khỏi chúng ta ? Để có thể nhận ra chân lý kết hợp ấy, xin đưa ra ví dụ chẳng hạn các loại bánh như bánh mì, bánh chưng, bánh ít, bánh bông lan v.v…dù có màu sắc, cân nặng, hình dáng to, nhỏ khác nhau thế nào nhưng tất cả đều làm bằng bột. Bột và Bánh tuy hai mà một, tuy một mà hai. Không bao giờ có thể tách rời bột ra khỏi bánh và ngược lại.
Qua ví dụ cụ thể, dễ hiểu vừa nêu cho thấy không thể tách rời Bột và Bánh. Bột ở đây tượng trưng cho Thiên Chúa, còn Bánh là con người với đủ loại dòng giống, màu da, chủng tộc khác nhau. Nếu Bột và Bánh không thể tách rời thì Thiên Chúa cũng vậy, cũng không bao giờ tách khỏi cái Hình Ảnh do Ngài tạo nên ! Như vậy, sự tách rời ấy là do con người chứ hoàn toàn không do Thiên Chúa. Tuy vậy, dù sự tách rời ấy đã đem lại biết bao lo lắng, muộn phiền cho con người nhưng nhờ Đức Ki Tô, con đường tìm kiếm để Trở Về đã được thiết lập cùng với lời khuyên nhủ hãy vững tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa:
“ Thế thì chớ lo lắng rằng: Chúng ta ăn gì, uống gì, mặc gì ? Vì mọi điều đó dân ngoại vẫn lo. Song Thiên Phụ các ngươi biết các ngươi cần dùng những thứ ấy rồi. Nhưng trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người thì mọi điều ấy Người sẽ thêm cho. Vậy các con đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo, ngày nào có cái khổ của ngày ấy” ( Mt 6, 31 -34 ).
Chúa nói: Ngày nào có cái khổ của ngày ấy có nghĩa con người ta sống là khổ và cái khổ ấy tất cả là vì đã chấp cho xác thân này là mình. Lão Tử nói: “ Ngã sở dĩ hữu đại hoạn giả. Vị ngô hữu thân. Cập ngô vô thân. Ngô hữu hà hoạn” ( Ta sở dĩ có nỗi khổ lớn là vì ta có thân. Nhược bằng không có thân thì đâu có khổ ? –ĐĐK Chương 13 ).
Có Thân tức là chấp cho cái xác thân nặng vài chục kí lô, sống nay chết mai này là mình. Bao lâu còn chấp xác thân là mình thì không cách chi thoát khổ được. Thế nhưng, truy nguyên tới cùng thì con người không sống với thân xác nhưng là với tư tưởng. Thật vậy, có tư tưởng ăn mới ăn, có tư tưởng đi, đứng, nằm ngồi, rẽ phải, rẽ trái v.v..thì mới đi, đứng, nằm, ngồi v.v…Còn nói cách triệt để như giáo sư William James ( 1840 – 1910 ), nhà tâm lý học trứ danh thì “ Chính tư tưởng là người tư tưởng”.
Chính bởi tư tưởng đóng vai trò có tính quyết định như thế, nên Y Học hiện đại mới có phương pháp gọi là Tự Kỷ Ám Thị ( Autosuggestion ) dùng Giả Dược ( Placebo Effect ) để chữa bệnh. Trong việc dùng Giả Dược để chữa bệnh cần có hai điều kiện, trước hết, những viên thuốc giả ấy cần được thiết kế giống hệt những viên thuốc thật cả về màu sắc lẫn hình dáng với giá cả tương xứng. Thứ hai, bệnh viện hay bác sĩ đứng ra chữa trị cần có tiếng tăm, uy tín. Nếu không đủ hai tiêu chuẩn này, việc chữa trị sẽ không thể có kết quả ?
Dùng Giả Dược để chữa bệnh hiện nay đã được khoa học áp dụng và thành công trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, việc chữa trị ấy nếu mục đích chỉ là để chữa cái phần xác thịt thôi thì theo tôi cũng chẳng ơn ích gì. Lý do, bởi con người ta nào có ai sống mãi trên cõi đời này đâu, kể cả những ông bác sĩ tài giỏi nhất, thử hỏi có ông nào cứu người ta khỏi phải chết không ? Tuy nhiên có một vị đệ nhất thần y là Chúa Giê Su lại có thể cứu con người khỏi chết đời đời. Nghe tin Lazaro bị ốm, Chúa Giê Su đến thăm nhưng khi đến nơi thì được Matha khóc và báo: “ Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết, bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng ban cho Thầy. Chúa nói: Em con sẽ không chết, Matha thưa: Con biết em con sẽ sống lại khi kẻ chết sống lại trong ngày tận thế. Chúa Giê Su liền phán: Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù đã chết cũng sẽ được sống lại, con có tin điều đó không ? Matha đáp: Thưa Thầy con vẫn tin Thầy là Đức Ki Tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống phải đến trong thế gian” ( Ga 11, 21 -27 ).
Tin Chúa Giê Su là Đấng Ki Tô sẽ không phải chết đời đời, thế nhưng niềm tin ấy ngày nay dường như đã không còn ? Chính Chúa Giê Su đã báo cho biết điều này: “ Liệu khi Con Người đến, há còn tìm thấy đức tin trên mặt đất này chăng ?” ( Lc 18, 8 ). Tình trạng mất đức tin như hiện nay đang thấy, đó chính là một trong những điều báo của Ngày Chúa Đến và điều này đã được cả Chúa Giê Su cũng như Đức Mẹ truyền cho thánh nữ Faustina Kowaska. Chúa nói: “ Con sẽ chuẩn bị cho lần đến sau cùng của Cha ( NK 429 ) Còn Đức Mẹ nói: “ Mẹ đã ban Đấng Cứu Thế cho thế giới. Còn con, con phải nói cho thế giới biết về lòng thương xót bao la của Người và chuẩn bị cho thế giới tiếp đón Người đến trong lần thứ hai. Người không đến trong tư cách Đấng Cứu Độ Nhân Lành nhưng trong tư cách một Thẩm Phán Chí Công” ( NK 635 ).
Tình trạng mất đức tin của Dân Chúa hiện nay, như đã nói đó là một trong những điềm báo Ngày Chúa Đến đã gần kề. Thế nhưng hầu như người ta vẫn dửng dưng coi như đó là chuyện viển vông xa vời chẳng liên quan gì đến mình. Tuy vậy, với những ai thực sự quan tâm đến thời sự trong thời gian gần đây, ngay trong năm 2026 này sẽ thấy Lời Chúa đã hoàn toàn ứng nghiệm: “ Các ngươi sẽ nghe về giặc và tiếng đồn về giặc giã, chiến tranh. Hãy bình tĩnh, chớ kinh hoảng vì những sự ác phải xảy đến. Song kỳ cuối cùng chưa đến đâu, vì dân này sẽ dấy nghịch cùng dân kia, nước nọ đánh nước khác. Nhiều nơi sẽ có động đất, sẽ có nạn đói. Song đó mới chỉ là khởi đầu cơn quặn thắt. Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi vào sự hoạn nạn và giết đi. Các ngươi sẽ bị mọi dân thù ghét vì Danh Ta. Khi ấy, nhiều kẻ sẽ vấp phạm, bắt nộp lẫn nhau và ghen ghét nhau. Nhiều tiên tri giả sẽ dấy lên và lừa dối nhiều người. Lại vì có sự gian ác thêm nhiều nên tình thương yêu sẽ nguội lần. Song ai bền đỗ đến cùng thì người ấy được cứu” ( Mt 24, 6 -13 ).
Những ai bền đỗ đến cùng, sẽ được cứu và cứu ở đây không có nghĩa là không phải chết, nhưng là sau khi chết sẽ được về Thiên Đàng hưởng Nhan Thánh Chúa đời đời. Điều quan trọng nhất, không chi sánh bằng đối với mỗi một Ki Tô Hữu chúng ta dù ở trong bất cứ đấng bậc nào là sau khi qua đời được về nơi Cõi Phúc Thiên Đàng. Thế nhưng để được về nơi vinh phúc đó nhất là trong hoàn cảnh nguy nan hiện nay thì cần có sự chuẩn bị, sẵn sàng. Chúa Giê Su, với lòng thương xót vô biên, Ngài đã truyền cho thánh Faustina vẽ một bức ảnh: “ Hãy vẽ một bức ảnh theo như mẫu con nhìn thấy với hàng chữ: Lạy Chúa Giê Su, con tín thác nơi Chúa. Cha ước mong bức ảnh này được tôn kính, trước là trong nhà nguyện của các con và ( sau đó tại khắp nơi trên thế giới ). Cha hứa rằng linh hồn nào tôn kính Bức Ảnh này sẽ không bị hư mất. Cha cũng hứa cho họ vinh thắng những kẻ thù ngay trên thế gian này, nhất là trong giờ lâm tử. Chính Cha sẽ bảo vệ họ như vinh quang riêng của Cha” ( NK 47 ).
Lời hứa của Chúa Giê Su, những ai trong giờ lâm chung mà nhìn Bức Ảnh Lòng Thương Xót với sự tôn kính thì sẽ được Chúa cứu. Một khi Chúa đã hứa như vậy thì chắc chắn phải được, thế nhưng làm sao để có được sự tôn kính ấy, đó mới là điều quan trọng và đây chính là điểm cốt yếu trong việc chữa trị bằng Ám Thị của Y Khoa thời hiện đại.
Như đã biết việc sử dụng Giả Dược để chữa bệnh sở dĩ có kết quả là nhờ ở hai yếu tố, một là viên thuốc giả ấy phải làm giống y như viên thuốc thật, hai là bệnh nhân cần có lòng tin vào vị bác sĩ uy tín, tài năng. Cả hai yếu tố này chẳng qua mục đích để tạo niềm tin cho người bệnh. Đang khi đó với Bức Ảnh Lòng Thương Xót cùng với câu: “ Lạy Chúa Giê Su, con tín thác nơi Chúa” ta cứ nhìn ngắm hết ngày này tháng khác thì sao lời ấy lại chẳng in sâu vào tiềm thức và khi tiềm thức đã ghi nhớ được…câu thần chú cùng với Hình Ảnh Chúa Giê Su sắc nét rõ ràng như thế làm sao lại không có được như lời Chúa hứa ? Chỉ với niềm tin vào vị bác sĩ, cũng là người đời mà còn chữa khỏi bệnh, huống chi là đức tin vào Chúa Giê Su như thánh Phao Lô nói: “ Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng sống mình vì tôi” ( Gl 2, 30 ).
Phùng Văn Hóa