Thế giới đi về đâu? Dấu chỉ thời đại: Bí Mật Fatima!

 (Bài chia sẻ cho buổi Hội Thảo Thánh Mẫu Thứ Sáu ngày 3/8/2012

trong Ngày Thánh Mẫu 2013,

và đã được Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ phổ biến 3 số báo

Tháng 10 và 12/2012 và 1-2/2013)

 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 

 

Sống trong một thế giới càng văn minh con người càng bạo loạn về xã hội, càng văn hóa sự chết về luân lý và càng phá sản đức tin về đạo lý, chưa nói đến càng khủng hoảng toàn cầu về kinh tế và càng dồn dập thiên tai về môi sinh, có thể nói, không ít người trong chúng ta lại không cảm thấy dường như sắp tận thế đến nơi rồi, thậm chí còn có những nhân vật đóng vai trò như là tiên tri trong việc báo trước chính xác về ngày tận thế (cho dù tới nay vẫn chưa ai đoán trúng).

 

Thế nhưng, dầu sao tất cả những biến động chưa từng có trong lịch sử loài người này, hay có nhưng chưa tới độ kinh hoàng khủng khiếp như hiện nay, cũng cho thấy những dấu chỉ hết sức nguy hiểm liên quan tới số phận của cả loài người mỗi ngày một băng hoại và diệt vong tới độ bất khả vãn hồi hay bất khả cứu vớt. Nếu cứ đà này thì thế giới sẽ đi về đâu?

 

Căn cứ vào Bí Mật Fatima được Trời Cao tỏ cho loài người biết qua 3 Thiếu Nhi Fatima Lucia, Phanxicô và Giaxinta biết vào ngày 13/7/1917, chúng ta có thể thấy được phần nào dấu chỉ thời đại liên quan tới tương lai của thế giới chúng ta đang sống.

 

 

Bí Mật Fatima: Lược sử và nội dung

 

Bí Mật Fatima đã được Lucia là Thiếu Nhi Fatima lớn nhất trong 3 em viết lại khi đã trở thành nữ tu Dòng Đôrôthêu ở Tây Ban Nha. Bí Mật Fatima có 3 phần rõ ràng: hai phần đầu được nữ tu Lucia viết lại trong tập Hồi Niệm thứ ba của mình ngày 31/8/1941, kèm theo một số chú giải ở tập Hồi Niệm thứ tư ngày 8/12/1941; phần thứ ba chưa được viết ra khi chị viết 2 phần đầu của Bí Mật Fatima vì Đức Mẹ không cho chị tiết lộ với bất cứ một ai, cho tới ngày 1/3/1944 khi chị được Trời Cao chấp nhận để chị viết ra theo lệnh của các vị bề trên là mẹ bề trên của chị và giám mục bản quyền địa phương của chị.

 

Phần Bí Mật Fatima thứ ba, sau khi được nữ tu Lucia viết ra, trước hết, đã được vị giám mục địa phương của chị cẩn thận bảo trì, sau đó, đã gửi về Tòa Thánh vào ngày 4/4/1957. Theo hồ sơ ghi nhận của Mật Hàm Tòa Thánh thì Bí Mật Fatima phần thứ ba này đã được chuyển tới 3 vị giáo hoàng theo thứ tự sau đây: 1- Đức Gioan XXIII ngày 17/8/1959, 2- Đức Phaolô VI ngày 27/3/1965, và 3- Đức Gioan Phaolô II ngày 18/7/1981, sau vụ ngài bị ám sát ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981, và Mật Hàm của Tòa Thánh đã nhận lại nguyên trọn bản văn của phần bí mật này vào ngày 11/8/1981.

 

Phần Bí Mật Fatima thứ ba đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chính thức cho tiết lộ, qua Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngày 26/6/2000. Thế nhưng, vào ngày 19/4/2000, ngài đã viết thư cho nữ tu Lucia báo trước về sự việc ngài sai vị đại diện của ngài đến gặp chị (như đã xẩy ra vào ngày Thứ Năm 27/4/2000 tại đan viện Carmêlô của chị ở Coimbra) để hỏi chị về những gì liên quan tới Bí Mật Fatima phần ba này. Vị đại diện của ngài bấy giờ là Đức Tổng Giám Mục Bertone, thư ký Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, (với sự hiện diện của vị giám mục địa phương là Serafim de Sousa Ferreira e Silva), đã hỏi nữ tu Lucia 3 câu hỏi liên quan tới 3 vấn đề chính yếu sau đây:

 

1- Nhân vật chính của thị kiến bí mật phần ba này phải chăng là giáo hoàng – chị đã trả lời là phải, sau khi chị công nhận rằng những gì chị đang cầm trên tay do Đức Tổng Giám Mục trao cho bấy giờ, bao gồm cả bao thư lẫn bức thư về phần bí mật thứ ba, là do chính chị viết;

 

2- Vị giám mục áo trắng trong thị kiến có phải là giáo hoàng – chị trả lời là đúng thế, cho dù lúc được thị kiền thấy phần bí mật thứ ba này vào năm 1917 chị không biết là vị giáo hoàng nào trong tương lai; và

 

3- Ý nghĩa của các chữ “có thể được mở ra sau năm 1960″ được chị ghi ở ngoài phong bì đựng bản văn của phần bí mật – chị cho biết là không phải do Đức Mẹ mà do chính chị cảm thấy chỉ sau năm 1960 mới có thể hiểu được phần bí mật thứ ba này.

 

Sau đây là nguyên văn tất cả Bí Mật Fatima 3 phần do chính chị Lucia viết ra, tôi đã trực tiếp chuyển dịch từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh. (Những chi tiết liên quan đến Bí Mật Fatima như được đề cập đến trên đây cũng được căn cứ vào nguồn tài liệu chính thức và chính xác này của Tòa Thánh): http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_en.html.

 

“Bí mật này được làm nên bởi ba phần khác nhau mà giờ đây con sắp viết ra hai trong ba phần đó:

 

“Phần thứ nhất là thị kiến về hỏa ngục.

 

“Đức Mẹ đã tỏ cho chúng con thấy một biển lửa lớn, dường như ở dưới lòng đất. Ma quỉ và các linh hồn dưới hình người bị chìm ngập trong lửa này, giống như những cục than hồng thông suốt, hoàn toàn như thỏi đồng đen đủi hay bóng láng, bập bềnh trong một đám cháy rực lửa, lúc thì bị tung lên không trung bởi những ngọn lửa xuất phát từ chính mình họ cùng với những đám khói cả thể, lúc thì bị rớt một cách nhẹ bỗng xuống khắp nơi như những tia lửa của một đám cháy khổng lồ, với những tiếng la thất thanh và rên xiết đớn đau tuyệt vọng, khiến chúng con kinh khiếp và rùng mình sợ hãi. Có thể nhận ra đám ma quỉ bằng những hình thù rùng rợn và ghê tởm giống các con thú kinh khiếp chưa từng thấy. đen ngòm và thông suốt. Thị kiến này kéo dài trong giây lát. Chúng con làm sao có thể tỏ lòng biết ơn cho đủ đối với Người Mẹ thiên đình nhân ái của chúng con, Đấng mà trong lần hiện ra thứ nhất đã sửa soạn trước cho chúng con bằng lời hứa sẽ đem chúng con về thiên đàng. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết đi vì sợ hãi và kinh hoàng.

 

“Bấy giờ chúng con nhìn lên Đức Mẹ, Đấng hết sức nhân từ và buồn bã nói với chúng con rằng:

 

“Các con vừa thấy hỏa ngục, nơi tội nhân khốn nạn rơi xuống. Để cứu họ, Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới. Nếu những điều Mẹ nói với các con được thực hiện thì nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và thế giới sẽ có hòa bình. Chiến tranh sắp chấm dứt, nhưng nếu người ta không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến khốc liệt hơn sẽ bùng nổ trong đời Đức Piô XI. Khi các con thấy ánh sáng lạ lùng chiếu giữa ban đêm, thì các con hãy biết rằng đó là điềm lạ vĩ đại Thiên Chúa muốn cho các con hay rằng Ngài sắp sửa trừng phạt thế giới tội lỗi, bằng chiến tranh, đói khát và việc bắt bớ Giáo Hội cùng Đức Thánh Cha. Để ngăn ngừa điều này, Mẹ sẽ đến để xin dâng hiến Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và xin rước lễ đền tạ các ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu người ta nghe lời Mẹ yêu cầu, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; bằng không, Nước Nga sẽ truyền bá lầm lạc khắp thế giới, gây chiến tranh và bách hại Giáo Hội. Người lành sẽ chịu tử vì đạo; Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ; các nước khác nhau sẽ bị hủy diệt. Cuối cùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình.

 

“Sau hai phần con đã diễn tả, thì ở bên trái của Đức Mẹ và cao hơn một chút, chúng con thấy có một vị Thiên Thần cầm một lưỡi gươm cháy lửa nơi tay trái; thanh gươm chớp chớp phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới; tuy nhiên, những ngọn lửa ấy đã bị tắt mất trước ánh quang sáng ngời từ bàn tay phải của Đức Mẹ phát ra chiếu về phía vị Thiên Thần, bởi thế, lấy bàn tay phải của mình mà chỉ xuống trái đất, vị Thiên Thần đã kêu lớn tiếng rằng: ‘Hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội!’. Rồi chúng con thấy một vị Giám Mục mặc Áo Trắng, ‘mà chúng con có cảm nhận đó là Đức Thánh Cha’, trong một vùng sáng mênh mông là Thiên Chúa, ‘giống như người ta thấy mình đi ngang qua trước một tấm gương soi’. Các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ khác đang tiến lên một ngọn núi dốc đứng, trên đỉnh có một cây Thập Giá lớn, được làm bằng những thân cây nứt nẻ như loại thân cây điên điển còn vỏ; trước khi tiến lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đã băng qua một thành phố lớn, một nửa đã bị tàn rụi, còn một nửa kia thì đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ, Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi thể Ngài gặp thấy trên quãng đường đi; tiến tới đỉnh núi rồi thì khi đang quì ở dưới chân cây Thập Giá lớn, Ngài đã bị một nhóm lính bắn các đầu đạn và mũi tên đến hạ sát, cũng lần lượt bị sát hại như thế có cả các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ cùng với thành phần giáo dân ở các tầng lớp và vai trò khác nhau. Dưới hai cánh Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm trong tay mình một bình nước thánh bằng pha lê để chứa đựng máu của các vị Tử Đạo và hai vị dùng máu ấy vẩy trên những linh hồn đang tìm đường đến cùng Thiên Chúa”.

  

Bí Mật Fatima: Ý nghĩa và lịch sử

 

Bí Mật Fatima, về bố cục, được chia ra làm 3 phần, nhưng về nội dung, rất liên hệ với nhau và chỉ có một ý nghĩa duy nhất đó là việc cứu độ loài người. Chính vì cốt lõi của tất cả Bí Mật Fatima là việc cứu độ loài người mà: phần nhất của Bí Mật Fatima là thị kiến hỏa ngục, cho thấy thực tại hư đi của các linh hồn vô cùng khốn nạn đáng thương, phần hai của Bí Mật Fatima liên quan đến dự án cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua một phương tiện cứu độ hay đường lối cứu độ rất cụ thể và đầy hữu hiệu được Thiên Chúa sử dụng đó là Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, và phần thứ ba của Bí Mật Fatima liên quan đến công cuộc cứu độ được thể hiện qua một lực lượng cứu độ của Mẹ là đạo binh dàn trận của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, thành phần Kitô hữu bao gồm từ giáo hoàng xuống tới giáo dân, bị sát hại ở ngay dưới chân cây thập tự giá lớn trên đỉnh của ngọn núi dốc đứng như để cùng với Chúa Kitô cứu độ nhân trần.

 

Tuy nhiên, trong Bí Mật Fatima, ở cả 3 phần làm nên một bí mật duy nhất này, chúng ta thấy đều chất chứa những yếu tố tiêu cực, những lực lượng phản nghịch với việc cứu độ và là những tác nhân gây nguy hại cho phần rỗi của các linh hồn, đó là: ma quỉ ở phần nhất, cộng sản ở phần hai, và “hồi giáo” ở phần ba (chúng ta sẽ thấy phần 3 này liên quan đến “hồi giáo” ra sao và tại sao ở những phần liên hệ của nó trong bài viết này).

 

Vì mục tiêu chính yếu và sâu xa của Bí Mật Fatima liên quan tới việc cứu độ, nên ở đây chúng ta sẽ không bàn đến phần nhất của Bí Mật Fatima, vì phần về hỏa ngục này, nơi mà ai đã rơi vào đó sẽ không bao giờ được cứu độ hay không thể nào cứu độ được nữa, (thành phần theo thị kiến của Chị Thánh Faustina ở Nhật Ký khoản 540 cho biết có nhiều kẻ ở đó chỉ vì không tin có hỏa ngục, trong khi đó, thống kê mới nhất vào giữa năm 2012 của Đại Học Georgetown cho thấy có 15% người Công giáo đi lễ hằng tuần hồ nghi về sự hiện hữu của hỏa ngục và 8% không tin có hỏa ngục), mà chỉ nói đến phần hai và phần ba của Bí Mật Fatima, hai phần rất liên hệ tới lịch sử loài người, chẳng những đã ứng nghiệm mà còn đang và tiếp tục ứng nghiệm nơi lịch sử loài người nữa, và bởi đó, căn cứ vào hai phần này, chúng ta có thể phần nào suy đoán được chiều hướng và điểm tới của lịch sử cho vấn đề thế giới đi về đâu?

 

Dựa vào phần hai và phần ba của Bí Mật Fatima, chúng ta thấy có hai lực lượng, theo quan niệm trần gian và nhận định phổ quát, cố ý tỏ ra chống lại với việc cứu độ của Kitô giáo, đó là cộng sản và “hồi giáo”. Thật vậy, lịch sử đã cho thấy rõ như thế: cộng sản vô thần về lý thuyết không chấp nhận bất cứ niềm tin tôn giáo nào, đặc biệt là Kitô giáo, và về thực hành có những chính sách ngăn cấm việc hành đạo, còn “hồi giáo”, chẳng những như cộng sản không chấp nhận bất cứ một tôn giáo nào, mà còn không cho theo một tôn giáo nào ngoài “hồi giáo” hay bắt phải cải đạo theo “hồi giáo” của mình mà thôi.

 

Hai lực lượng này, một xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, với cuộc Cách Mạng Tháng 10/1917 ở Nước Nga, và một có thể nói chính thức xuất hiện vào đầu thế kỷ 21, với cuộc khủng bố tấn công ngày 11/9/2001 ở Nước Mỹ. Không hẹn mà hò, hai đệ nhất đại cường quốc (trong thời Chiến Tranh Lạnh) trực tiếp liên quan đến hai lực lượng đặc biệt phản Kitô giáo này: nếu Nga liên quan tới cộng sản thì Mỹ liên quan tới “hồi giáo”. Đối với “hồi giáo”, nhất là đối với thành phần cuồng tín cực đoan của Hồi giáo thì Kitô giáo là Tây phương hay ngược lại, mà Tây phương văn minh được tiêu biểu nhất nơi đại cường Mỹ quốc. Thế mà, cả hai lực lượng phản Kitô giáo là cộng sản và “hồi giáo” này lại đều đã được công khai nói đến trong cả Biến Cố Fatima và Bí Mật Fatima.

 

I- Biến Cố Fatima năm 1917 đã bao gồm cả cộng sản lẫn “hồi giáo” ở chỗ nào?

 

Lực lượng cộng sản đã được bao gồm ở ngay ý nghĩa về thời điểm của Biến Cố Fatima. Đúng thế, Biến Cố Fatima xẩy ra trong 6 tháng liền, từ tháng 5 tới tháng 10 năm 1917. Trong khi đó, biến cố chế độ cộng sản ở nước Nga lại không ngờ lại bắt đầu xuất hiện vào ngay tháng trước khi Biến Cố Fatima mở màn là Tháng 5 và ngay sau tháng Biến Cố Fatima kết thúc là Tháng 10, tức biến cố xuất hiện chế độ cộng sản ở nước Nga xẩy ra vào Tháng 4 (ngay trước Biến Cố Fatima mở màn vào Tháng 5) và Tháng 11 (ngay sau Biến Cố Fatima kết thúc vào Tháng 10).

 

Thật vậy, Tháng 4, vào ngày 16, là ngày Lenin, vị lãnh tụ của Đảng Bolshevik (nghĩa là “đa số” ngược lại với Đảng Menshevik nghĩa là “thiểu số”) bắt đầu từ hải ngoại lên đường về Nga để sửa soạn bắt tay thực hiện cuộc Cách Mạng Tháng 10/1917, và Tháng 11, vào ngày 7, Cách Mạng Tháng 10 ở Nga của Đảng Bolshevik (tên gọi tắt bất chính thức thay cho danh xưng Đảng Lao Động Xã Hội Dân Chủ Nga – RSDLP: Russian Social Democratic Labour Party) đã thành công. Nhưng Đảng Bolshevik, một năm sau đó, tức vào năm 1918, đã được đổi tên thành Đảng Cộng Sản Nga (Russian Communist Party) cho tới năm 1925, rồi từ 1925 đến 1952, theo chủ trương của Stalin không còn là “đa số” nữa mà là “toàn thể” đã được gọi là Đảng Cộng Sản Toàn Kết (All-Union Communist Party), và cuối cùng từ năm 1952 tới khi tự động giải thể chế độ cộng sản vào năm 1991 được gọi là Đảng Cộng Sản Liên Bang Sô-Viết (Communist Party of the Soviet Union).                   

 

Nếu lực lượng cộng sản được Biến Cố Fatima bí mật bao gồm nơi thời điểm của biến cố này thì lực lượng “hồi giáo” cũng đã được bí mật bao gồm ở ngay ý nghĩa về địa điểm của Biến Cố Thánh Mẫu 1917. Thật vậy, “Fatima” tên gọi của Biến Cố Thánh Mẫu 1917 này và địa điểm “Fatima” được Trời Cao cố ý chọn lựa cho Biến Cố Thành Mẫu 1917 này có liên quan đến Hồi giáo. Ở chỗ, “Fatima” là tên con gái của giáo tổ Hồi giáo Mohammed, một tên gọi cũng đã được đặt cho địa điểm Đức Mẹ chọn hiện ra năm 1917, không biết từ lúc nào, nhưng chắc chắn trong thời cai trị gần 8 thế kỷ (711-1492) của Hồi giáo ở Bán Đảo Iberia (Iberian Peninsula) thuộc miền cực Tây Nam Âu Châu là bán đảo bao gồm chính yếu hai quốc gia Âu Châu là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

 

Và cũng ở chính địa điểm lịch sử “Fatima” này, Mẹ Maria đã xưng mình “Ta là Đức Mẹ Mân Côi”, một tước hiệu liên quan đến cuộc chiến thắng lực lượng Hồi giáo ở trận hải chiến Lepanto năm 1571, một chiến thắng nhờ việc cầu Kinh Mân Côi được vị giáo hoàng Piô V thời ấy phát động và kêu gọi thế giới Kitô giáo bấy giờ đang phân rẽ cùng nhau thực hiện, và từ đó, để kỷ niệm chính ngày chiến thắng lạ lùng nhờ ơn thiêng của Thánh Mẫu Kinh Mân Côi này, Vị Thánh Giáo Hoàng Piô V đã thành lập Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng ngày 7/10 hằng năm, một lễ sau đó hai năm được Đức Grêgôry XIII đổi lại thành Lễ Đức Mẹ Mân Côi, một lễ được Giáo Hội hoàn vũ cùng cử hành tưởng nhớ từ năm 1740 theo sắc lệnh của Đức Clemente XII, nhưng lễ này không bao giờ thay đổi ngày mừng, cho dù phụng vụ Giáo Hội có canh tân nhất là từ Công Đồng Chung Vaticanô II (1962-1965), mà vẫn tiếp tục được cử hành kính trong Tháng 10 cũng là tháng được Mẹ Maria cố ý xưng mình “Ta là Đức Mẹ Mân Côi”, (chứ Mẹ không xưng mình như thế vào đầu hay giữa Biến Cố Fatima, như vào Tháng 5 khi Mẹ mới hiện ra hay Tháng 7 khi Mẹ tiết lộ Bí Mật Fatima, trong khi đó, ở Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức năm 1858, Mẹ đã xưng mình “Ta là Đấng hoài thai vô nhiễm” vào lần hiện ra thứ 16 trong 18 lần hiện ra).

 

Nếu thời điểm của Biến Cố Fatima liên quan đến cộng sản Nga, và địa điểm cùng tước hiệu Mẹ Mân Côi của Biến Cố Fatima liên quan đến “hồi giáo” thì con số 13 ở Biến Cố Fatima liên quan đến những gì và tại sao Trời Cao lại chọn ngày 13 trong 6 tháng liền? Nếu theo lời Mẹ Maria kêu gọi 3 Thiếu Nhi Fatima thụ khải bấy giờ là Lucia (10 tuổi), Phanxicô (9 tuổi) và Giaxinta (7 tuổi) vào lần hiện ra thứ nhất ngày 13/5/1917 là hãy tiếp tục đến địa điểm Mẹ hiện ra lần đầu tiên ấy vào cùng ngày 13 trong tháng, thì con số 13 này có thể liên quan tới chính nội dung của Biến Cố Fatima, hay đến những yếu tố chính yếu làm nên Biến Cố Fatima, đó là chính Biến Cố Fatima, Sứ Điệp Fatima, Thiếu Nhi Fatima và Bí Mật Fatima.

 

Không phải hay sao, nếu con số 13 bao gồm con số 1 đứng trước con số 3, thì Biến Cố Fatima quả thực có 4 yếu tố chính yếu trên đây liên quan đến vừa số 1 lần số 3 hợp thành số 13. Chẳng hạn 1 Biến Cố Fatima có 3 giai đoạn: 1- giai đoạn tiền biến cố vào năm 1916 liên quan tới Thiên Thần Hòa Bình hiện ra với 3 em về Chúa Giêsu Thánh Thể, 2- giai đoạn chính biến cố bao gồm 6 lần Mẹ hiện ra trong năm 1917 và 3- giai đoạn hậu biến cố bao gồm 2 lần Mẹ hiện ra với riêng Lucia vào ngày 10/12/1925 và 13/6/1929. Hay 1 Sứ Điệp Fatima có 3 mệnh lệnh: 1- mệnh lệnh cải thiện đời sống, 2- mệnh lệnh lần hạt Mân Côi và 3- mệnh lệnh tôn sùng Mẫu Tâm. Hoặc 1 dự án cứu độ có 3 Thiếu Nhi Fatima: 1- Thiếu Nhi Giaxinta chuyên hy sinh cứu các tội nhân đáng thương, 2- Thiếu Nhi Phanxicô chuyên an ủi Chúa Giêsu Thánh Thể là Đấng “bị xúc phạm đến nhiều lắm rồi”, và 3- Thiếu Nhi Lucia chuyên “làm cho Mẹ được nhận biết và yêu mến” theo ý muốn của “Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”. Hay 1 Bí Mật Fatima cò 3 phần: 1- phần thị kiến hỏa ngục, 2- phần dự án cứu độ và 3- phần thị kiến tử đạo.

 

II- Bí Mật Fatima ngày 13/7/1917 đã bao gồm cả cộng sản lẫn “hồi giáo” ra sao?

 

Hai lực lượng phản chống Kitô giáo là cộng sản và “hồi giáo” chẳng những đã được bí mật bao gồm ở nơi thời điểm của Biến Cố Fatima và địa điểm của Biến Cố Fatima, như trên đã suy diễn và trình bày dựa vào các dữ kiện lịch sử, mà còn được chất chứa trong cả Bí Mật Fatima phần thứ hai và phần thứ ba nữa. Có thể nói, phần thứ hai của Bí Mật Fatima liên quan tới cộng sản và phần thứ ba của Bí Mật Fatima liên quan đến “hồi giáo”.

 

Bí Mật Fatima phần thứ hai liên quan tới cộng sản

 

Thật vậy, trong phần thứ hai của Bí Mật Fatima, phần về dự án cứu độ, chúng ta thấy Mẹ Maria đã hiển nhiên nói đến chủ nghĩa cộng sản nói chung và chế độ cộng sản ở Nga nói riêng, thứ tự như sau:

 

1- Mẹ báo trước rằng sắp sửa xẩy ra một trận chiến tranh dữ dội hơn nữa là Thế Chiến Thứ II, sau Thế Chiến Thứ I, như Mẹ vừa nói ngay trước đó: “Chiến tranh sắp chấm dứt, nhưng nếu người ta không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến khốc liệt hơn sẽ bùng nổ trong đời Đức Piô XI”. Ngoài ra, Mẹ cũng báo cho biết trước cả sự kiện xuất hiện chế độ cộng sản ở Nga, một lực lượng “bắt bớ Giáo Hội cùng Đức Thánh Cha” nữa: Khi các con thấy ánh sáng lạ lùng chiếu giữa ban đêm, thì các con hãy biết rằng đó là điềm lạ vĩ đại Thiên Chúa muốn cho các con hay Ngài sắp sửa trừng phạt thế giới tội lỗi, bằng chiến tranh, đói khát và việc bắt bớ Giáo Hội cùng Đức Thánh Cha“.

 

2- Mẹ tiết lộ cho biết một phương thế để cứu riêng Giáo Hội và chung thế giới khỏi hiểm họa Nga cộng đó là Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, bằng việc hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ cũng như bằng việc rước lễ đền tạ vào các Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng, bằng không thế giới và Giáo Hội sẽ bị khốn đốn với quốc gia cộng sản này: Để ngăn ngừa điều này, Mẹ sẽ đến để xin dâng hiến Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và xin rước lễ đền tạ các ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu người ta nghe lời Mẹ yêu cầu, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; bằng không, Nước Nga sẽ truyền bá lầm lạc khắp thế giới, gây chiến tranh và bách hại Giáo Hội”.

 

3- Mẹ tiết lộ tình trạng khốn đốn của chung thế giới và riêng Giáo Hội gây ra bởi Nga cộng, thế nhưng cuối cùng, như Mẹ cho biết trước là “Nước Nga sẽ trở lại” sau khi Đức Thánh Cha “hiến dâng Nước Nga cho Mẹ”, nhờ đó “thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình”: “Người lành sẽ chịu tử vì đạo; Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ; các nước khác nhau sẽ bị hủy diệt. Cuối cùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình“.

 

Lịch sử quả thực đã hoàn toàn ứng nghiệm lời tiên báo của Mẹ ở câu cuối cùng của phần thứ hai Bí Mật Fatima: “Cuối cùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình“.

 

1- Cuối cùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng”. Lời tiên báo này có thể hiểu là Trái Tim Mẹ sẽ thắng cộng sản như mục đích xa và ”thắng” Đức Thánh Cha như mục tiêu gần. Vì không “thắng” Đức Thánh Cha thì Nước Nga sẽ không bao giờ trở lại, vì việc trở lại của Nước Nga hoàn toàn lệ thuộc vào việc Đức Thánh Cha hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, một việc vô cùng tế nhị về chính trị, trong khi Giáo Hội chuyên về thiêng liêng và đức tin. 

 

Ở đây chúng ta cũng phải thông cảm với các vị giáo hoàng, từ Đức Piô XII (1939-1958) trở đi, đã không làm hay lưỡng lự không làm, hoặc làm song không trọn vẹn, việc hiến dâng Nước Nga này theo ý muốn của Trời Cao. Nếu các ngài hiến dâng Nước Nga cho Mẹ là các ngài tin theo mạc khải tư (private revelation), những gì không buộc tin như mạc khải Thánh Kinh (biblical revelation), và là những gì các ngài không biết có thực sự như vậy hay chăng, và nếu làm theo mà thực tế không xẩy ra thì các ngài đã tin theo dị đoan, một việc làm vô cùng tác hại tới thế giá của chung Giáo Hội cũng như của riêng vị đại diện Chúa Kitô trên trần gian trong vai trò dẫn dắt Giáo Hội sống đức tin. 

 

Để biết được cuộc hành trình khó khăn thế nào trong việc “Đức Thánh Cha hiến dâng Nước Nga”, chúng ta hãy nghe chị Lucia, vào năm 1940, trong Thư gửi cho Cha Linh Hướng đề ngày 18/8, xác nhận như sau: “Con nghĩ rằng Chúa lấy làm hài lòng khi có ai cố gắng để làm cho Vị Đại Diện của Người trên thế gian làm hiện thực ý muốn của Người. Thế nhưng Đức Thánh Cha chưa làm điều này. Ngài hồ nghi về sự thật của nó và Ngài có lý của Người… Con rất thông cảm với với Đức Thánh Cha và con cầu nguyện rất nhiều cho Ngài” (“Documents on Fatima & the Memoirs of Sister Lucia”, English Edition by Fatima Family Apostolate 1992, page 336).

 

Trong Thư đề ngày 18/5/1936, chị Lucia đã viết cho cùng Cha Linh Hướng của chị về việc chị cảm thấy khó khăn trong vấn đề làm sao để Đức Thánh Cha tin tưởng hầu thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, đến nổi chị đã đặt vấn đề thẳng với Chúa và được Người trả lời như sau: “Con đã thân tình nói với Chúa về vấn đề này, và cách đây không lâu con đã hỏi Người rằng tại sao Người không làm cho Nước Nga trở lại mà không cần đến việc Đức Thánh Cha phải hiến dâng? ‘Vì Cha muốn cho toàn thể Giáo Hội nhìn nhận rằng việc hiến dâng này là việc toàn thắng của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, để sau này Giáo Hội phổ biến lòng tôn sùng này và đặt lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria song song với lòng tôn sùng Thánh Tâm Cha” (cùng nguồn trích dẫn trên, trang 286).

 

2- “Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước Nga cho Mẹ”. Như trên đã nói, để làm một việc hoàn toàn theo mạc khải tư không biết có thật hay chăng, chính Mẹ Maria phải nhúng tay vào đời tư của các vị giáo hoàng của Mẹ, chẳng hạn Đức Piô XII, vị giáo hoàng đã được tấn phong giám mục vào chính ngày giờ Mẹ hiện ra ở Fatima lần đầu tiên, 13/5/1917, và Đức Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng bị ám sát tại Quảng Trưòng Thánh Phêrô vào chính ngày kỷ niệm Mẹ hiện ra lần đầu tiên ở Fatima, đó là ngày 13/5/1981, hai vị giáo hoàng đã cố gắng thực hiện việc hiến dâng này, thứ tự thời gian như sau:

 

- Lần đầu tiên vào ngày 31/10/1942, kỷ niệm ngân khánh Biến Cố Fatima, nhưng Đức Piô X chỉ hiến dâng toàn thể loài người, không phải Nước Nga; 

 

- Lần hai vào ngày 7/7/1952, lễ kính hai vị thánh quan thày của sắc dân Nga là Thánh Cyrilô và Mêthôđiô, lần này Đức Piô XII quả thực có ý hiến dâng Nước Nga cho Mẹ nhưng một cách kín đáo, tuy nhiên, ngài lại không hiệp cùng với hàng giám mục trên thế giới như Trời Cao mong muốn, như bức thư Chị Lucia đệ trình cho ngài ngày 24/10/1940 về việc giáo hoàng cần phải hiệp dâng cùng với hàng giáo phẩm toàn cầu nữa;

 

- Lần ba vào ngày Lễ Hiện Xuống mùng 7/6/1981, tại Đền Thờ Đức Bà Cả, nhưng chỉ qua phát thanh chứ không trực tiếp hiện diện, vì sức khỏe của Đức Gioan Phaolô II chưa cho phép sau biến cố bị ám sát chết hụt hơn 3 tuần lễ;

 

- Lần bốn vào ngày 13/5/1982, kỷ niệm đúng một năm được cứu mạng, Đức Gioan Phaolô II đã đến tận Linh Địa Fatima để hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, nhưng các vị giám mục trên thế giới chưa kịp hiệp thông với ngài vì thư ngài gửi các vị không tới tay các vị đúng lúc;

 

- Lần thứ năm vào ngày 25/3/1984, Lễ Mẹ Thai Lời, Đức Gioan Phaolô II, hiệp cùng với các vị giám mục trên thế giới, long trọng hiến dâng chung thế giới và riêng Nước Nga cho Mẹ theo bản kinh do chính ngài dọn để cùng đọc chung như được ngài gửi đến cho các vị trong bức thư từ ngày 8/12/1983 để đề phòng chậm trễ như lần 13/5/1982. Và lần hiến dâng này đã được Chị Lucia công nhận là thành hiệu trong bức thư ngày 8/11/1981. Sau đây là lời nguyện cầu tiêu biểu và chính yếu nhất (trong bản kinh dài) biến đổi thế giới của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong biến cố hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ.:

 

Chúng con hôm nay đặt mình trước nhan Mẹ trong năm mừng kỷ niệm ơn cứu rỗi. Chúng con xin hợp với tất cả mọi chủ chăn trong Giáo Hội làm thành một thân thể và một tập đoàn, đúng như ý của Chúa Kitô muốn các tông đồ hiệp nhất với thánh Phêrô. Trong mối liên kết hiệp nhất này, chúng con đọc những lời hiến dâng mà chúng con muốn bao gồm một lần nữa hy vọng của Giáo Hội cũng như lo âu đối với thế giới ngày nay. Bốn mươi năm về trước, rồi 10 năm sau đó, tôi tớ của Mẹ là Đức Giáo Hoàng Piô XII, chứng kiến cảnh khổ đau của gia đình nhân loại, đã phó thác và hiến dâng cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, đặc biệt là nhân dân mà Mẹ yêu thương và quan tâm cách riêng. Cũng thế giới của mọi người và mọi dân tộc này trước mắt của con hôm nay đây, con xin lập lại việc phó thác và hiến dâng mà vị tiền nhiệm của con đã thực hiện ở Tòa Thánh Phêrô: thế giới của kỷ nguyên thứ hai đang kết thúc, thế giới tân tiến, thế giới của chúng con hôm nay! Một cách đặc biệt, chúng con xin phú thác và hiến dâng cho Mẹ tất cả những người và những dân nước cần được phú thác và dâng hiến. Chúng con chạy đến với sự bảo hộ của Mẹ, Thiên Chúa Thánh Mẫu: xin đừng chê chối lời cầu xin chúng con dâng lên Mẹ trong cơn khẩn trương của chúng con”.

 

3- “Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình“. Sau cuộc hiến dâng Nước Nga này, Trời Cao đã thực sự giữ lời hứa trong việc làm cho Nước Nga trở lại. Bằng cách, đúng một năm sau cuộc hiến dâng lịch sử này, tức vào Tháng 3/1985, vị Tổng Bí Thư Cộng Sản Liên Bang Sô Viết trẻ nhất trong các vị bí thư trước đó xuất hiện, đó là nhân vật mang tên Mikhail Gorbachev. Nhân vật quan trọng này đã được Trời Cao sai đến ngay sau cuộc hiến dâng để giúp vào việc làm biến đổi lịch sử Đông Âu (bao gồm cả Liên Bang Nga) nói riêng và Âu Châu nói chung. Ông đã đích thân đến gặp Đức Gioan Phaolô II hai lần, một vào ngày 1/12/1989, khi Biến Cố Đông Âu sắp sửa kết thúc, và một vào ngày 18/11/1990, trước khi Liên Sô tự động giải thể chế độ cộng sản vào chính Lễ Giáng Sinh 25/12/1991.

 

4- “Thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình“. Nếu Nước Nga trước 1917 không ở dưới chế độ cộng sản thì vào ngày 25/12/1991 tự động giải thể chế độ cộng sản này thì đó là một hành động “trở lại”, và nếu Nước Nga thời cộng sản là cái ngòi chiến tranh, cụ thể là trường hợp sắp sửa xẩy ra Thế Chiến Thứ 3 vào đầu tháng 10/1962, khi Nga mang phi đạn nguyên tử đến Vịnh Cuba nhắm thẳng vào Hoa Kỳ thời Tổng Thống Kennedy, đã “trở lại”, thì quả thực thế giới “được ban cho một thời gian hòa bình”. Kéo dài bao lâu? Bí Mật Fatima phần thứ hai kết thúc tại đây, hoàn toàn không cho biết về thời gian hòa bình này. Nhưng câu trả lời có thể được tìm thấy ở phần ba của Bí Mật Fatima là những gì bí mật tiếp nối phần hai. Có thể nói, căn cứ vào mối liên hệ của hai phần cuối này của Bí Mật Fatima này thì hết thời cộng sản sẽ sang tới thời “hồi giáo”, vì phần thứ ba của Bí Mật Fatima liên quan tới “đám lính”, hình ảnh tiêu biểu cho “hồi giáo”. Đó là lý do, chúng ta có thể khẳng định rằng thời gian hòa bình chỉ kéo dài 10 năm trời, từ 1991 đến 2001, tức là từ khi Nước Nga trở lại ngày 25/12/1991 tới biến cố khủng bố tấn công Mỹ quốc ngày 11/9/2001.

 

Bí Mật Fatima phần thứ ba liên quan đến “hồi giáo”

 

Nếu ở phần thứ hai của Bí Mật Fatima, cộng sản nói chung và Nga cộng nói riêng được Mẹ Maria hiển nhiên nói đến thế nào thì ở phần thứ ba của Bí Mật Fatima “hồi giáo” chỉ được tỏ hiện nơi một hình ảnh tiêu biểu trong toàn thị kiến mà thôi. Để biết được đâu là hình ảnh tiêu biểu về “hồi giáo” trong phần ba của Bí Mật Fatima này, chúng ta cần nhìn lại một cách kỹ lưỡng, theo thứ tự, những diễn cảnh khác nhau ở phần này:

 

Diễn cảnh thứ nhất cho thấy “Đức Mẹ” và “vị Thiên Thần”: Mẹ Maria cố ý ra tay ngăn cản lưỡi gươm lửa ở trong tay vị thiên thần đang chĩa xuống thế giới như muốn hủy diệt loài người tội lỗi: “Một vị Thiên Thần cầm một lưỡi gươm cháy lửa nơi tay trái; thanh gươm chớp chớp phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới; tuy nhiên, những ngọn lửa ấy đã bị tắt mất trước ánh quang sáng ngời từ bàn tay phải của Đức Mẹ phát ra chiếu về phía vị Thiên Thần, bởi thế, lấy bàn tay phải của mình mà chỉ xuống trái đất, vị Thiên Thần đã kêu lớn tiếng rằng: ‘Hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội!’”.

 

Diễn cảnh thứ hai cho thấy “vị giám mục áo trắng” và một đoàn người Kitô hữu: đoàn người Kitô hữu bao gồm vị giám mục mặc áo trắng được coi như Đức Thánh Cha, cùng với các vị giám mục, linh mục và tu sĩ nam nữ đang tiến lên một ngọn núi dốc đứng là nơi có cây Thập Giá ngự trị trên đó như tột đỉnh cho cuộc hành trình đức tin mãnh liệt của họ: Một vị Giám Mục mặc Áo Trắng, ‘mà chúng con có cảm nhận đó là Đức Thánh Cha’, trong một vùng sáng mênh mông là Thiên Chúa, ‘giống như người ta thấy mình đi ngang qua trước một tấm gương soi’. Các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ khác đang tiến lên một ngọn núi dốc đứng, trên đỉnh có một cây Thập Giá lớn, được làm bằng những thân cây nứt nẻ như loại thân cây điên điển còn vỏ“.

 

Diễn cảnh thứ ba cho thấy “một thành phố lớn” chỉ còn một nửa thành phố là đang thoi thóp sống, nơi được vị giáo hoàng trước khi tiến lên đỉnh núi băng ngang qua, ngài đã cầu nguyện khi chứng kiến thấy những chết chóc trên đường: Trước khi tiến lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đã băng qua một thành phố lớn, một nửa đã bị tàn rụi, còn một nửa kia thì đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ, Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi thể Ngài gặp thấy trên quãng đường đi“.

 

Diễn cảnh thứ tư cho thấy “một đám lính” xuất hiện bắn chết cả vị giáo hoàng đang quì cầu nguyện dưới chân Thập Tự Giá lẫn đoàn người Kitô hữu, trong đó có đủ mọi tầng lớp thành phần giáo dân: “Tiến tới đỉnh núi rồi thì khi đang quì ở dưới chân cây Thập Giá lớn, Ngài đã bị một đám lính bắn các đầu đạn và mũi tên đến hạ sát, cũng lần lượt bị sát hại như thế có cả các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ cùng với thành phần giáo dân ở các tầng lớp và vai trò khác nhau“.

 

Diễn cảnh thứ năm cho thấy “hai Thiên Thần” thu tích máu tử đạo của những vị bị sát hại để vẩy trên những ai tìm đến cùng Thiên Chúa: Dưới hai cánh Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm trong tay mình một bình nước thánh bằng pha lê để chứa đựng máu của các vị Tử Đạo và hai vị dùng máu ấy vẩy trên những linh hồn đang tìm đường đến cùng Thiên Chúa”.

 

Ở đây chúng ta nên đặc biệt để ý đến diễn cảnh 3 và 4.

 

Trước hết, diễn cảnh 3 cho thấy “một thành phố lớn” ở bên dưới ngọn núi dốc đứng, mà nếu căn cứ vào lịch sử, và vào thời điểm phần thứ ba của Bí Mật Fatima được công bố vào Đại Năm Thánh 2000, thì “thánh phố lớn” này ám chỉ Âu Châu, một thế giới Tây phương văn minh nhất thế giới, đang bá chủ toàn cầu về cả chính trị, kinh tế lẫn văn hóa. Thế nhưng, thế giới Tây phương này, như thị kiến cho thấy, “một nửa đã bị tàn lụi”, mà nếu căn cứ vào những gì đã xẩy ra trước Năm 2000, thì “một nửa đã bị tàn rụi” này chính là thế giới cộng sản, bao gồm Đông Âu năm 1989 và Liên Bang Sô Viết năm 1991. ”Còn một nửa kia thì đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ”, so sánh với số phận của “một nửa đã bị tàn lụi” là thế giới cộng sản Âu Châu thì có thể nói một nửa còn lại này chính là thế giới tư bản, một thế giới tuy chưa “bị tàn rụi” như nửa kia nhưng chủ nghĩa duy thực lợi và duy thực nghiệm cũng đang ngấp ngoái trong nền văn hóa sự chết.

 

Sau nữa, diễn cảnh 4 cho thấy “một đám lính” ở ngay trên đỉnh của ngọn núi dốc đứng, mà nếu cũng căn cứ vào những dữ kiện lịch sử xẩy ra trước năm 2000, thì có thế nói “đám lính” này là thành phần Hồi giáo cuồng tín cực đoan chuyên khủng bố sát hại. Không phải hay sao: “vị giám mục mặc áo trắng” trong thị kiến của phần ba Bí Mật Fatima này đã ứng nghiệm nơi Đức Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng đã bị ám sát ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981, khi đang mặc áo trắng của vị giám mục Rôma, và tên sát thủ quốc tế bấy giờ bắn ngài không phải là một tay Hồi giáo người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Ali Agca hay sao?

 

Vấn đề được đặt ra ở đây liên quan tới “hồi giáo”, thành phần được tiêu biểu nơi hình ảnh “một đám lính” trong thị kiến của phần ba Bí Mật Fatima, đó là tại sao “đám lính” này lại có thể leo lên được tới đỉnh của một ngọn núi dốc đứng, một hình ảnh tiêu biểu cho cuộc hành trình đức tin vô cùng cam go bất khả thắng vượt nếu không có một đức ái trọn hảo mạnh hơn sự chết, mà chỉ có thành phần Kitô hữu anh dũng “theo Con Chiên đến bất cứ nơi nào Con Chiên tới” (Rev 14:4) mới đạt tới?

 

Vấn đề rất hợp tình hợp lý này có thể được giải đáp như sau: Nếu chúng ta thấy Đồi Canvê là nơi Chúa Kitô tử giá chẳng những có thành phần người lành, tiêu biểu như Mẹ Maria, Thánh Gioan và Mai-Đệ-Liên, thì cũng có cả kẻ dữ nữa, tiêu biểu như các vị trong hội đồng kỳ mục Do Thái, thì trên đỉnh của ngọn núi dốc đứng này cũng thế, cũng có cả thành phần Kitô hữu trọn lành chứng nhân của Chúa Kitô và cả “đám lính” sát hại nữa. Nếu hội đồng kỳ mục Do Thái đã nhân danh Thiên Chúa để khủng bố sát hại Con Thiên Chúa (xem Mt 22:70-71) thì thành phần Hồi giáo cuồng tín cực đoan được tiêu biểu nơi hình ảnh “đám lính” trên đỉnh núi dốc đứng trong thị kiến của phần ba Bí Mật Fatima cũng nhân danh Thiên Chúa để khủng bố Tây phương được họ đồng hóa với Kitô giáo, một Tây phương văn minh hầu như đã lên đến tột đỉnh về nhân quyền và hết sức lạ lùng tân tiến về khoa học cùng kỹ thuật nhưng sa đọa đã tới tận cùng về văn hóa, luân lý và đức tin.

 

 

III- Bí Mật Fatima – Dấu chỉ thời đại liên quan tới tương lai của thế giới chúng ta đang sống?

 

Đến đây, nhờ Bí Mật Fatima phần ba, chúng ta đã lờ mờ thấy được phần nào tương lai của thế giới ngày nay, một thế giới sau giai đoạn Chiến Tranh Lạnh giữa đệ nhất nhị cường Mỹ (tư bản) và Nga (cộng sản), và sau giai đoạn “thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình“, đang ở vào giai đoạn Chiến Tranh Văn Hóa hay Chiến Tranh Tôn Giáo, giữa Hồi giáo Ả Rập và Kitô giáo Tây phương, được thể hiện qua các cuộc khủng bố tấn công (bởi phe “hồi giáo”) và tấn công khủng bố (từ phe Tây phương được đồng hóa với Kitô giáo, nên Kitô giáo ở trong thế giới Hồi giáo đã liên tục bị trả giá cho các cuộc tấn công khủng bố của Tây phương, điển hình nhất là vụ Mỹ ngang nhiên tấn công Iraq từ ngày 19/3/2003).

 

Từ khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, vị Giáo Hoàng tương lai Biển Đức XVI của chúng ta đã cảm nhận được cuộc tranh hùng giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo trên bàn cờ lịch sử thế giới, một cuộc tranh hùng giờ đây phần thắng đang nghiêng hẳn về bên thế giới Ả Rập Hồi Giáo. Ngài đã bày tỏ cảm nhận này của mình khi trả lời cho câu hỏi “Việc Hồi Giáo liên kết toàn cầu có nghĩa là gì  đối với Kitô Giáo?” trong cuốn “Salt of The Earth” (Muối Đất), ấn bản Anh ngữ do Ignatius xuất bản năm 1997, trang 245-246, ở chương “Priorities of the Church’s Development – Những điều ưu tiên trong Việc Phát Triển của Giáo Hội”, như sau:

 

Việc liên kết này là một hiện tượng muôn mặt. Về một phương diện thì các yếu tố tài chính góp phần vào việc này. Quyền lực về tài chính có được nơi các quốc gia Ả Rập là một quyền lực giúp cho họ có thể xây dựng các đền thờ lớn lao khắp nơi, để bảo đảm về sự hiện diện của các cơ cấu văn hóa Hồi Giáo cùng với những điều khác đại loại như thế. Thế nhưng, chắc chắn đó không phải là một yếu tố duy nhất. Yếu tố khác nữa đó là một căn tính được gia tăng, một tâm thức mới về mình.

 

“Trong bối cảnh về văn hóa của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, cho đến thập niên 1960, cái trổi vượt của các quốc gia Kitô Giáo về kinh tế, văn hóa, chính trị và quân sự quá lớn mạnh đến nỗi thực sự đẩy Hồi Giáo vào hạng thứ yếu, và Kitô Giáo, có thể nói, các nền văn minh theo căn gốc Kitô Giáo có thể tỏ ra mình như là một quyền lực chiến thắng trong lịch sử thế giới. Thế nhưng, vào lúc ấy lại xẩy ra một cuộc khủng hoảng đại thể về luân lý nơi thế giới Tây phương, một thế giới mang tính cách là một thế giới Kitô Giáo. Trước những tương phản sâu xa về luân lý nơi Tây phương cùng với sự bất lực nội tại của nó – một nỗi bất lực đột nhiên nghịch lại với một quyền lực mới về kinh tế của các quốc gia Ả Rập – hồn sống của Hồi Giáo đã bừng lên. Chúng tôi cũng là một nhân vật nào đó nữa chứ; chúng tôi biết được mình là ai mà; tôn giáo của chúng tôi đang vững mạnh đây; các người không còn thứ tôn giáo như thế nữa. 

 

“Đó thực sự là cái cảm thức hôm nay nơi thế giới Hồi Giáo: ở chỗ, các quốc gia Tây phương không còn khả năng giảng dạy một sứ điệp về luân lý nữa, mà chỉ có một thứ kiến thức về kỹ thuật để cống hiến cho thế giới mà thôi. Kitô Giáo đã bị lịm tắt mất rồi; nó thực sự không còn hiện hữu như là một tôn giáo nữa; thành phần Kitô hữu không còn luân lý hay đức tin nữa; tất cả những gì còn lại đó là một ít vết tích của vài ý nghĩ minh tri tân thời mà thôi; chúng tôi có một thứ tôn giáo vững vàng chắc chắn.

 

“Bởi vậy thành phần tín đồ Hồi Giáo giờ đây đã ý thức rằng thực sự Hồi Giáo cuối cùng trở thành một tôn giáo cường tráng hơn, và họ có một cái gì đó để nói với thế giới, thực sự họ là một lực lượng về tôn giáo chính yếu cho tương lai. Trước đây, sharia (luật Hồi Giáo – chú thích của người dịch) và tất cả những thứ ấy đã biến mất trên hiện trường ở một nghĩa nào đó; giờ đây trở thành một niềm hãnh diện mới. Thế là một nhiệt tình mới, một cường độ mới về nhu cầu sống Hồi Giáo đã bừng lên. Đó là một quyền lực mạnh mẽ nơi Hồi Giáo: Chúng tôi có một sứ điệp về luân lý đã từng hiện hữu mà không bị lũng đoạn từ hồi các vị tiên tri, và chúng tôi sẽ nói cho thế giới biết cách sống sứ điệp này, trong khi Kitô Giáo chắc chắc không thể nào làm nổi. Dĩ  nhiên là cờ đã đến tay chúng tôi nhờ ở quyền lực nội tại này của Hồi Giáo, một thứ quyền lực thậm chí thu hút cả những lãnh vực về hàn lâm nữa.

 

Khi trở thành giáo hoàng, ngài vẫn tiếp tục nhận định của mình về chiều hướng xuống dốc của Tây phương văn minh trong chuyến tông du Đức quốc của ngài. Cho dù chuyến tông du thứ tư của vị giáo hoàng đương kim Biển Đức XVI của chúng ta đã qua đi, nhưng âm vang của chuyến tông du này chẳng những (khách quan và bất ngờ), ngay sau đó đã làm bấn loạn cả thế giới Hồi Giáo, qua những gì khiến họ cảm thấy nhức nhối, khó chịu và vùng vẫy, liên quan tới vấn đề tôn giáo phi bạo lực, được ngài nói đến trong bài diễn văn ở Đại Học Regensburg Đức Quốc ngày Thứ Ba 12/9/2006, mà còn làm cho cả thế giới Tây Phương, nếu thực sự lắng nghe, không nhiều thì ít, cũng cảm thấy hết sức thấm thía nữa, vì ngài đã mạnh dạn và thẳng thắn động chạm tới tận cốt lõi của nền văn hóa đang bị khủng hoảng và phá sản của họ, đó là chủ nghĩa tương đối muốn được quyền tự do tuyệt đối của họ. Trong 15 bài diễn từ của ngài cho cuộc tông du thứ 4 này, bài trực tiếp liên quan tới văn hóa Tây Phương, một văn hóa giờ đây đã từng đụng đổ nẩy lửa với văn hóa Hồi Giáo, điển hình là vụ bộ tranh biếm họa ở Đan Mạch xẩy ra vào tháng 2/2006, đó là bài giảng Thánh Lễ Chúa Nhật ngày mùng 10/9/2006 tại Neue-Messe ở Munich, trong đó có đoạn như thế này:

 

Dân chúng ở Phi Châu và Á Châu cảm phục khả năng về khoa học và kỹ thuật của chúng ta, thế nhưng đồng thời họ sợ hãi trước một thứ hình thức của lý trí hoàn toàn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi nhãn quan của con người, như thể hình thức đó là hình thức cao nhất của lý trí, và là một hình thức cần phải được áp đặt trên cả các nền văn hóa của họ nữa. Họ không thấy mối đe dọa thực sự cho căn tính của họ nơi đức tin Kitô Giáo, nhưng trong việc tỏ ra khinh thường Thiên Chúa và việc ngạo mạn coi vấn đề chế diễu sự linh thánh là việc thực hành quyền tự do, và chủ trương thực dụng là qui chuẩn tối hậu về luân lý cho tương lai của việc nghiên cứu khoa học. 

 

“Các bạn thân mến, cái ngạo mạn này không phải là một thứ nhân nhượng và có tính cách cởi mở về văn hóa được dân chúng trên thế giới tìm kiếm và tất cả chúng ta đều mong muốn! Sự nhân nhượng chúng ta hết sức cần đến bao gồm cả lòng kính sợ Thiên Chúa – tôn trọng những gì người khác cho là linh thánh. Việc tôn trọng đối với những gì người khác cho là linh thánh ấy đòi hỏi là chính chúng ta cần phải học biết lại việc tỏ lòng kính sợ Thiên Chúa. Cảm quan tôn trọng này có thể được tái sinh nơi thế giới Tây Phương chỉ khi nào niềm tin tưởng vào Thiên Chúa được phát sinh, chỉ khi nào Thiên Chúa một lần nữa trở nên hiện hữu đối với chúng ta và trong chúng ta“.

 

Trong bài giảng ở Quảng Trường Đền Thánh Đức Mẹ Fatima vào chính ngày 13/5/2010, ngày kỷ niệm Mẹ Maria đã hiện ra với 3 em Thiếu Nhi Fatima 93 năm trước, và kỷ niệm đúng 10 năm hai em Phanxicô và Giaxinta được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong chân phước, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã bày tỏ cảm nhận của ngài về vai trò ngôn sứ của Fatima, về tình hình băng hoại của thế giới, về sứ vụ cứu độ của Fatima và nhất là về lời tiên báo Trái Tim Mẹ thắng liên quan tới thời điểm kỷ niệm mừng đệ nhất bách chu niên Biến Cố Thánh Mẫu Fatima vào năm 2017 như sau:

 

Chúng ta sẽ lầm lạc khi nghĩ rằng vai trò ngôn sứ của Fatima đã hoàn tất…. Nhân loại đã thành công trong việc buông thả cơn lốc chết chóc và kinh hoàng nhưng thất bại trong việc chấm dứt nó… Trong Thánh Kinh chúng ta thường thấy rằng Thiên Chúa tìm kiếm những con người nam nữ công chính để cứu thành trì của con người và Ngài đã làm như thế ở nơi đây, ở Fatima đây, khi Đức Mẹ hỏi rằng: ‘Các con có muốn dâng mình cho Thiên Chúa, để chịu đựng tất cả mọi đau khổ Ngài sẽ gửi đến cho các con, hầu đền tạ các tội lỗi Ngài phải chịu và cầu cho các tội nhân ơn ăn năn hoán cải hay chăng?’ (Memoirs of Sister Lucia, I, 162)…. Ở vào một thời điểm gia đình nhân loại đã sẵn sàng hy sinh tất cả những gì là linh thánh nhất trên bàn thờ lợi lộc hèn hạ và vị kỷ của các quốc gia, của các chủng tộc, của các ý hệ, của các nhóm và cá nhân, thì Người Mẹ Phúc Đức của chúng ta đã từ trời đến, thực hiện việc gieo Tình Yêu Thiên Chúa đang bừng cháy trong Trái Tim của Mẹ vào tâm hồn của tất cả những ai tin tưởng nơi Mẹ. Lúc bấy giờ Mẹ chỉ gieo vào 3 trẻ em, nhưng đặc biệt nhờ thành quả từ những chuyến đi của Vị Trinh Nữ Thánh Du, gương mẫu của đời sống các em đang lan rộng và tăng bội nơi vô số các nhóm người trên khắp thế giới biết dấn thân cho tình đoàn kết huynh đệ. Chớ gì 7 năm hướng chúng ta tới biến cố mừng trăm năm của những cuộc hiện ra này mau chóng hoàn tất lời tiên tri về cuộc vinh thắng của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, cho vinh quang của Ba Ngôi Chí Thánh”.

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã giải thích những gì ngài nói ở Fatima ngày 13/5/2010 về lời tiên báo liên quan đến Trái Tim Mẹ Thắng, trong tác phẩm Ánh Sáng Thế Gian, ấn bản Anh ngữ, do Ignatius Press San Francisco xuất bản năm 2010, ở Phần III về “Từ đây chúng ta đi về đâu? – Where Do We Go From There?”, chương 16 về “Maria và Sứ Điệp Fatima – Mary and the Message of Fatima”, trang 166, như sau:

 

Tôi cho rằng ‘cuộc chiến thắng’ này sẽ tới gần hơn nữa. Điều ấy cũng có nghĩa là việc chúng ta nguyện cầu cho Nước Chúa trị đến đó thôi. Lời phát biểu này của tôi không có nghĩa là tôi mong rằng sẽ xẩy ra một cuộc biến đổi cả thể nào đó và lịch sử đùng một cái sẽ hoàn toàn đổi thay. Vấn đề thật ra ở đây là quyền lực của sự dữ cứ bị chế ngự, và quyền năng của Thiên Chúa sẽ được tỏ hiện nơi quyền phép của Mẹ Maria nơi tình trạng sự dữ cứ bị chế ngự ấy”.

 

Thế nhưng, phải chăng “lời tiên tri về cuộc vinh thắng của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, cho vinh quang của Ba Ngôi Chí Thánh”, như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI nói trong bài giảng ở Linh Địa Fatima ngày 13/5/2010 này có liên quan đến lời tiên báo của Thánh Long Mộng Phố: “Mẹ Maria là vị trang bị cho họ để vương quốc của Ngài bao trùm trên thành phần vô đạo, vương quốc của thành phần tôn thờ ngẫu tượng và vương quốc của thành phần Mohammed” (bản dịch cuốn “True Devotion to Mary” Anh ngữ của Cha Frederick Faber, Tan Books and Publisher, Inc, 1985, page 35, đoạn 59)?

 

Trong Chương Năm về “Vị Giáo Hoàng của ‘Mẹ Đấng Cứu Chuộc’: ‘Totus Tuus’”, ở trang 174-178, cuốn “Mặt Trời Khổ Ải – Vinh Quang Oliu” xuất bản 4/2006, kỷ niệm đầy năm băng hà của Đức Gioan Phaolô II (2/4/2004) và đăng quang của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI (24/4/2005), tôi đã chia sẻ cảm nghiệm của mình như sau:

 

“Lịch sử đã cho thấy lời tiên báo này đã và đang trở thành sự thật, ở chỗ, vương quốc thứ nhất là vương quốc của người vô đạo, được hiện thân nơi chế độ vô thần Cộng Sản, thế mà, vương quốc này đã bị vương quốc của Thiên Chúa là Giáo Hội Công Giáo nói chung và thế lực thiêng liêng của Đức Gioan Phaolô II nói riêng bao trùm, qua hiện tượng tự động sụp đổ của Khối Cộng Sản Đông Âu năm 1989 và tự động giải thể của Khối Cộng Sản Liên Bang Sô Viết năm 1991. (Nếu cả một lực lượng Cộng Sản đầu não của Cộng Sản là Liên Sô và Đông Âu còn bị vương quốc của Thiên Chúa bao trùm như thế, thì vấn đề tồn tại của tàn quân Cộng Sản nơi Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Hàn chỉ là một hiện tượng chẳng những đang mờ dần trước nạn khủng bố toàn cầu hiện nay mà còn đang chìm vào thế giới văn minh nhân quyền, gắng gượng bám víu lấy cái phao tư bản để sống còn trong trạng thái biến dạng).  

 

“Nếu vương quốc của Thiên Chúa, qua Mẹ Đấng Cứu Chuộc, đã quả thực, như lịch sử cho thấy, bao trùm vương quốc của thành phần vô đạo là Cộng Sản như thế, thì vương quốc của Thiên Chúa sẽ bao trùm vương quốc của lực lượng tôn thờ ngẫu tượng là một thế giới Tây Phương duy nhân bản chỉ biết tôn thờ con bò vàng tuyệt đối tự do ‘pro choice’ ở mọi lãnh vực của cuộc sống văn minh vật chất và nhân quyền của mình này ra sao? Có thể xẩy ra một trong hai trường hợp được suy đoán theo chiều hướng lịch sử: chiều hướng tự động đại kết Kitô Giáo và chiều hướng nhu cầu đại kết Kitô Giáo vì Hồi Giáo.

 

“Trước hết, về chiều hướng tự động đại kết Kitô Giáo có thể sẽ xẩy ra thế này. Nếu xuất thân từ Balan, từ Đông Âu, Đức Gioan Phaolô II đã làm cho Cộng Sản Đông Âu Sụp Đổ, kéo theo cả sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh (Berlin Wall) là biểu hiệu cho tình trạng phân cách Châu Âu, một Đông Âu và một Tây Âu, thì Giáo Hoàng Biển Đức XVI, xuất thân từ Tây Âu, từ Đức Quốc, từ một quốc gia gây ra hai Thế Chiến trong thế kỷ 20, và cũng chính là nơi xuất phát ra phong trào Thệ Phản Cải Cách từ đầu thế kỷ 16, có thể là vị cũng sẽ được Thiên Chúa quan phòng sử dụng để thực hiện cho một Âu Châu Hiệp Nhất như vậy. Bởi vì, chỉ khi nào Tây Phương, tiêu biểu là Âu Châu (chưa kể Bắc Mỹ), trở về với căn tính của mình, qua việc Hiệp Nhất Kitô Giáo, bấy giờ họ mới có thể làm cho Âu Châu Hiệp Nhất, một Hiệp Nhất Âu Châu hiện đang quằn quại dẵm chân tại chỗ theo chiều hướng duy kinh tế và chính trị, và một khi Âu Châu Hiệp Nhất, thì Kitô Giáo, hiện thân vương quốc của Thiên Chúa, ‘vương quốc của Đấng Tối Cao bao trùm vương quốc của tín đồ Hồi Giáo’.

 

“Sau nữa, về chiều hướng nhu cầu đại kết Kitô Giáo vì Hồi Giáo có thể xẩy ra như sau. Với những cuộc khủng bố tấn công liều mạng theo chủ nghĩa tuyệt mạng và bảo thủ cuồng tín của một số con người thuộc tín đồ Hồi Giáo, những cuộc khủng bố tấn công chẳng những vào các cơ sở đầu não về chính trị và kinh tế của đệ nhất cường quốc Hoa Kỳ, mà còn cả vào các nơi ăn chơi của người Tây Phương hay theo kiểu Tây Phương ở bất cứ nơi nào trên thế giới nữa (điển hình nhất ở Bali năm 2002), cuộc chiến này phần thắng có thể sẽ về tay Hồi Giáo. Họ thắng không phải vì họ có vũ khí và lực lượng quân sự cùng kinh tế mạnh hơn Tây Phương, nhưng vì Thiên Chúa muốn dùng họ để trừng phạt thế giới Tây Phương văn minh tội lỗi, như Ngài đã từng sử dụng ‘cái roi’ Cộng Sản để trừng trị con cái của Ngài vì những bất công xã hội xẩy ra từ Thời Cách Mạng Kinh Tế.

 

“Bấy giờ, phải, chỉ bấy giờ Kitô giáo, Công Giáo, Chính Thống Giáo, Anh Giáo và các giáo phái Tin Lành, vì định mệnh tồn vong của chung đạo giáo của mình, mới có thể gắn bó với nhau, mới có thể nhờ đó tiến đến chỗ hiệp nhất nên một Giáo Hội duy nhất như Chúa Kitô mong muốn, một tình trạng hiệp nhất mà nếu không ở trong hoàn cảnh như một dân Yến Duyên bị lưu đầy Babylon như thế, Kitô giáo chắc không thể nào hay rất khó lòng đạt được, dù có cố gắng đối thoại đại kết với nhau từ ngay sau Công Đồng Chung Vaticanô II (11/10/1962-8/12/1965). Nếu thực sự cần phải bị trừng trị bởi cái roi ‘Hồi Giáo’, Kitô giáo mới hiệp nhất nên một, thì không phải Hồi Giáo chỉ là dụng cụ Thiên Chúa muốn dùng để thưc hiện ý định của Ngài hay sao, Đấng toàn năng có thể biến dữ nên lành cho những ai tin vào Ngài. Đằng nào cuối cùng thì ‘vương quốc của Đấng Tối Cao (cũng) bao trùm vương quốc của tín đồ Hồi Giáo’ vậy…

 

“Nếu thực sự, như Bí Mật Fatima phần thứ hai tiết lộ: ‘Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới’, một thế giới đã được biến đổi sau Biến Cố Đông Âu cuối thập niên 1980 và Biến Cố Nước Nga đầu thập niên 1990, thì chắc chắn Ngài cũng sẽ làm cho Mẹ được nhận biết và yêu mến qua biến cố ‘vương quốc của Đấng Tối Cao bao trùm vương quốc của tín đồ Hồi Giáo’, bằng biến cố Âu Châu Hiệp Nhất, qua cuộc Hiệp Nhất Kitô Giáo, một cuộc Hiệp Nhất Kitô Giáo, biết đâu, sẽ xẩy ra vào năm 2017, dịp kỷ niệm 100 năm Biến Cố Fatima, cũng là dịp kỷ niệm đúng 500 năm xuất phát Phong Trào Thệ Phản Cải Cách ở Đức, năm có thể là cuối đời của Vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị đã lấy danh hiệu của mình theo Giáo Hoàng Biển Đức XV là vị Giáo Hoàng chăn dắt Giáo Hội Chúa vào thời điểm của Biến Cố Fatima”.

 

Tình hình thế giới hiện nay đang bị khủng hoảng về tất cả mọi phương diện, từ nhân bản, liên quan tới nhân quyền, đến thiên nhiên (gây ra bởi kỹ nghệ), liên quan tới tình trạng hâm nóng toàn cầu (global warming) đầy những thiên tai hoạn nạn càng ngày càng nhiều, cũng như đến kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2007 tới nay, đặc biệt nơi thế giới Tây phương là trung tâm của tất cả các cuộc khủng hoảng này, những cuộc khủng hoảng mà nguyên do sâu xa gây ra bởi khủng hoảng đạo lý, như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nhận định như thế ở cuộc họp mặt tất niên mừng Giáng Sinh với Giáo Triều Rôma hôm Thứ Năm 22/12/2011 như sau: ”Trong lúc năm nay tiến đến hồi kết thúc thì Âu Châu đang trải qua một cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính, một cuộc khủng hoảng xét cho cùng gây ra bởi cuộc khủng hoảng về đạo lý đang bao trùm cả Châu Lục Cổ Kính này“.

 

Cho dù về phương diện chính trị, kinh tế và quân sự, thế giới Tây phương theo Kitô giáo có mạnh hơn thế giới Ả Rập Hồi giáo, nhưng nếu xét về phương diện luân lý, phải công nhận là thế giới Tây phương theo Kitô giáo đã thua thế giới Ả Rập Hồi giáo. Ở chỗ:

 

1- Trong khi thế giới Ả Rập Hồi giáo chỉ có luật đa thê, thì Tây phương theo Kitô giáo mặc nhiên cho phép cả đa thê lẫn đa phu với luật được phép ly dị để lập gia đình với nhau bao nhiêu lần cũng được, thậm chí còn được lập gia đình với cả người đồng phái tính;

 

2- Trong khi thế giới Ả Rập Hồi giáo nhân danh Thiên Chúa để khủng bố bất cứ thành phần kẻ thù nào, thì thế giới Tây phương theo Kitô giáo lại nhân danh nhân quyền để khủng bố, không phải là kẻ thù mà là chính ruột thịt của mình, chính thai nhi trong lòng mình;

 

3- Trong khi dân số Âu Châu đang giảm sút tới độ, có những nơi xuống dưới cả mức thay thế (replacement level), tức số tử nhiều hơn số sinh, thì tín đồ Hồi giáo đang sinh sản tràn đầy và đang tăng dân số ở Âu Châu cùng với các đền thờ của họ như để bù vào các thánh đường của Kitô giáo bị đóng cửa.

 

Phải chăng, Thiên Chúa đang thực hiện dự án thần linh của Ngài trong lịch sử thế giới mà về phương diện tự nhiên càng ngày càng nguy vong theo chiều hướng cánh chung của Ngài, ở chỗ, Ngài sẽ qui tụ mọi sự về Chúa Kitô để Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự (xem 1Cor 15:28)?

Nếu quả thực như vậy, căn cứ vào Bí Mật Fatima, đặc biệt là vào phần thứ ba của bí mật này, cũng như vào lời tiên báo của Thánh Long Mộng Phố (Louis Montfort) từ đầu thế kỷ 18 trong tác phẩm Thành Thật Sùng Kính Mẹ Maria, đoạn 59, đoạn liên quan thứ tự tới thành phần vô đạo, thành phần tôn thờ ngẫu tượng và thành phần Hồi giáo, (như được trích dẫn trên đây), thì lịch sử thế giới có thể tiến tới chỗ Thiên Chúa bắn một phát súng trúng ba con chim. Phát súng được Ngài bắn ra đây là thế giới Ả Rập Hồi giáo, và ba con chim bị bắn rớt đây bao gồm Tây phương theo Kitô giáo, Do Thái giáo và cả chính Hồi giáo. Diễn tiến của trận chiến cánh chung này có thể xẩy ra như thế này:

 

1- Thế giới Ả Rập Hồi giáo, theo quan phòng thần linh của Đấng làm chủ lịch sử loài người, sẽ trở thành bá chủ toàn cầu nói chung và Tây phương (kèm theo cả Do Thái) nói riêng;

 

2- Thế giới Tây phương Kitô giáo sẽ bị tử đạo rất nhiều bởi Hồi giáo (như hình ảnh cả “một đám lính”, trong Bí Mật Fatima phần ba cho thấy, đã bắn chết hết nhóm Kitô hữu ở trên đỉnh núi dốc đứng bấy giờ, chứ không phải chỉ có một tên sát thủ Hồi giáo duy nhất là Ali Agca Thổ Nhĩ Kỳ nhưng lại bắn hụt, và chỉ duy một mình Đức Gioan Phaolô II bị bắn nhưng không chết);

 

3- Thế giới Tây phương theo Kitô giáo, dưới ách thống trị tàn bạo của Hồi giáo, vì niềm tin của mình, nhất là bằng máu tử đạo, chắc chắn sẽ đại kết nên một (như thời của trận hải chiến Lepanto năm 1571), và sẽ chiến thắng lực lượng Hồi giáo;

 

4- Do Thái giáo, thành phần Dân Chúa tuyển chọn từ thời các tổ phụ của họ là Abraham, Isaac và Giacóp, vẫn hằng trông mong Đấng Thiên Sai đến giải phóng cho mình, nhất là lúc họ bị cai trị một cách nhục nhã và đẫm máu của Hồi giáo, Đấng mà, theo giòng lịch sử cứu độ của họ, họ sẽ không bao giờ trông mong nếu không bị làm nô lệ cho bất cứ một thế lực nào, sẽ công nhận Đức Kitô của Kitô giáo, Đấng đã bị họ phủ nhận và đóng đinh ngày xưa, giờ đây cũng là Đấng Thiên Sai của họ, khi thấy sức mạnh đại kết của Kitô giáo đã thắng được cái tàn ác kinh hoàng khủng khiếp của Hồi giáo;

 

5- Hồi giáo cho dù có trở thành bá chủ thế giới, nhưng vì nội bộ tranh chấp và tranh giành quyền lực, cuối cùng, tới hết thời điểm của mình trong ý nhiệm của Đấng Tối Cao, đã thảm bại trước lực lượng đại kết của Kitô giáo, đến nỗi phải công nhận rằng Vị Đệ Nhất Đại Tiên Tri của mình không phải là Mohammed mà là Đức Kitô, giáo tổ Kitô giáo.

 

Nếu quả thực xẩy ra như thế thì phát súng Hồi giáo được Thiên Chúa sử dụng đã hạ được 3 con chim: con chim thứ nhất là Kitô giáo trở nên hiệp nhất nên một; con chim thứ hai là Do Thái giáo nhìn nhận Chúa Kitô của Kitô giáo là Đấng Thiên Sai của mình, và con chim thứ ba là Hồi giáo cũng nhìn nhận Chúa Kitô của Kitô giáo là Vị Tiên Tri thật sự của mình.

 

 

Giáo Phận San Bernadino California Lễ Hiển Linh ngày 6/1/2011

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Hiệp Sĩ Trái Tim Mẹ – Tông Đồ Chúa Tình Thương

Chuyên Mục: Chia Sẻ Tâm Linh 

Thiên Chúa đối với chúng ta thì công bằng không thiên vị, tháng ngày chăm nom, mưa sương tưới gội, không phân biệt nhau; chúng ta yêu người thì cũng nhất nhất đối đãi như nhau, không phân biệt lớn nhỏ.- Thánh Bernardus

       Tháng Mười Hai: Mừng Chúa Giáng Sinh
          Chúa Cha phán dạy con cái của Ngài
        Sách Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria
Edel Quinn: Đóa Hoa Đầu Mùa của Phong Trào Legio Mariae

Chúa Nhật 1 MV B | Chúa Nhật 34 TN A

| 5 Phút Cho Lời Chúa | Sống Tin Mừng với Mẹ Maria

Bài liên quan: