Mánh Lới Của Những Người Tham Vọng

MỘT LỄ TRẠI TƯNG BỪNG NHỮNG CÂU NÓI UY HÙNG VÀ CAO CẢ.

Vì bọn Biệt Phái và Luật sĩ lập mưu giết Chúa, nên Ngài bỏ lại Jêrusalem và về truyền đạo ở Galilêa. Nhưng không bao lâu đã đến dịp Lễ Trại, một dịp lễ người Do Thái mở rất trọng thể vào mùa Thu, để tạ ơn Thiên Chúa đã ban mùa màng và kỷ niệm 40 năm lưu lạc ở hoang dã. Dịp lễ này, người ta trẩy đến đông lắm. Cũng dịp lễ này, mấy người anh em thân thuộc của Chúa đến giục Ngài đi dự lễ ở Jêrusalem để Ngài trổ tài làm phép lạ. Họ biết uy thế của Ngài ở Galilêa mạnh lắm. Đó là cả vinh dự cho gia đình và thân thuộc.Theo quan niệm của họ, Ngài có thể trở nên một đại thủ lãnh của xứ sở, tuy nhiên theo ý họ, Ngài đã phạm hơn một điều lầm lỗi: Giáo lý của Ngài quá cao xa, đã gây thù giữa bọn sĩ phu thành thánh và không phù hợp với những nguyện vọng của dân.

Bởi vậy, cần Ngài phải lên Jêrusalem để làm những việc dị thường, ngõ hầu lấy lại thanh thế và sửa soạn cho tương lai….Họ cùng nhau đến giục Ngài:

-Thầy bỏ xứ Galilêa và hãy lên Jêrusalem để tìm những người đồng chí hướng. Thầy hãy làm những việc lạ để các môn đệ Thầy được dịp chứng kiến. Khi người ta muốn tỏ mình ra, sao người ta lại cứ hành động trong bóng tối ? Thầy có phép lạ làm những việc dị thường, Thầy nên tỏ mình cho thiên hạ biết.

Quả thực là những người chưa tin Ngài. Họ không hiểu về xứ mạng cao cả nhưng thiêng liêng của Ngài. Họ chỉ xét Ngài dưới góc cạnh chính trị lẫn quốc gia, và cho rằng lên Jêrusalem lần này là dịp tốt để mưu một việc đại sự. Việc chính biến. Phải !

Ngài sẽ đứng đầu nêu cao cờ giải phóng, nêu cao bằng những chuỗi phép lạ, và toàn dân sẽ hùa theo, bọn sĩ phu sẽ khuất phục, quân ngoại bang sẽ tan rã. Nhưng Chúa biết rõ ý định của họ, và Ngài không ưa làm phép lạ để phô trương hay vì bị thách thức. Nên Ngài bảo họ:

-Thời giờ của Ta chưa đến, còn thời giờ của các người lúc nào cũng sẵn. Thế gian không ghét các người, nhưng chỉ ghét Ta, vì Ta phản đối chúng và chứng tỏ công việc của chúng xấu. Vậy các người cứ đi dự lễ trước. Bây giờ Ta chưa đi, thời giờ của Ta chưa đến.

Lời Ngài phán làm đám anh em thân thuộc bất bình. Họ bỏ mặc Ngài lại và lên đường đi Jêrusalem. Lúc họ đi rồi, Ngài mới bí mật đi, sau khi sai mấy môn đệ đi dò đường.

Giữa lúc ấy ở thành thánh Jêrusalem. Lễ Trại đã khai mạc với tất cả vẻ náo nhiệt tưng bừng của một Đại Lễ. Nhưng giữa cảnh náo nhiệt tưng bừng ấy, dân chúng ngơ ngác nhìn nhau và bàn tán về sự vắng mặt của Chúa. Họ hỏi nhau:

-Ông ấy ở đâu ?

Trong số những người bàn tán, có người nói: Ông ấy tốt có người lại nói: Không phải thế, ông ấy chỉ phỉnh gạt dân Nhưng họ thì thào vậy, chứ không ai dám đường hoàng và công khai bình phẩm về Ngài, vì họ rất sợ bọn Biệt Phái.

Phần Chúa sau một lát lên đường, Ngài xin vào trọ, nhưng những người trong làng biết Ngài và môn đệ có ý lên Jêrusalem để dự lễ. Việc đó làm họ phẫn lắm, vì gián tiếp chứng tỏ Jêrusalem là trung tâm duy nhất của tế tự. Nên họ làm khó dễ nhất định không cho Ngài trọ, cốt để ngăn trở việc của Ngài. Thấy thế ông Giacôbê và Gioan cho là lỗi luật tiếp khách, dám sỉ nhục Thầy mình, và đáng phạt. Các ông tức giận và xin phép Chúa phạt họ như ông Êlia xưa đã phạt sứ bộ vua Ôcôxia rằng:

-Lạy Thầy, Thầy có muốn để chúng con khiến lửa trên trời xuống thiêu hủy chúng đi không ?

Nhưng các ông đã bị Ngài khiển trách:

-Các con muốn báo oán ư ? Sao các con dám nói những lời như vậy ?

Rồi Ngài với các ông đi vào làng khác.

Chúa đã đến Jêrusalem và cả thành thánh đang tưng bừng trong bầu không khí hoan lạc của Lễ Trại. Người ta đang múa hát trong những chòi làm ở dưới gốc cây, đang yến tiệc trong những lều vải dựng ở giữa những khoảng đất trống, và từng đoàn người, áo quần sặc sỡ đang diễu qua những con đường đưa tới Thánh đường. Những đám đông đó với tài điều khiển của một vị tướng lỗi lạc, rất có thể gây một cuộc binh biến. Bởi vậy trong những ngày Lễ Trại, đoàn quân ngoại quốc và cảnh binh giữ trật tự, phải thận trọng luôn luôn.

Cũng bởi vậy, mấy người anh em thân thuộc của Chúa đã giục Ngài trẩy đến trong dịp lễ này, để hy vọng một cuộc phát động có nhiều cơ may. Nhưng ý Chúa lại khác hẳn. Ngài không màng đến chính trị, và một khi tới Đền thờ, Ngài chỉ lo một việc giảng dạy. Ngài giảng dạy công khai, giáo lý Ngài cao cả, lời giải thích của Ngài rõ rệt và khéo léo khiến khách thập phương đến nghe đều phải thán phục. Ngài quả là một tiến sĩ đại danh, một tiến sĩ trổi hơn những tiến sĩ lỗi lạc như Hillel và Schamai. Thế mà người ta có thấy Ngài theo học một trường nào như các tiến sĩ ấy đâu. Thực lạ quá !

Người ta bỡ ngỡ, và người này hỏi người nọ:

-Ông này không đi học mà sao thông hiễu Thánh Kinh và giảng dạy khéo thế ?

Thừa dịp Chúa tuyên bố Giáo lý của Ngài không đắc thụ bởi luật tự nhiên, nhưng là bởi trời đem xuống. Ngài phán:

-Giáo lý của Ta không phải bởi Ta, song bởi Đấng đã sai Ta. Ai muốn làm trọn ý của Đấng ấy, người đó sẽ nhận thấy rằng Giáo lý này bởi Chúa Trời, hay bởi Ta tự thuyết ra.

Phàm ai tự mình thuyết lý, người ấy tìm vinh hiển riêng cho mình. Nhưng ai tìm sự vinh hiển của Đấng đã sai mình, người ấy quả là thật thà không ám muội và rất đáng tin.

Chúa cứ đường hoàng giảng dạy trong Đền thờ. Càng giảng nguồn hùng biện càng chảy tràn lai láng. Nhiều người biết bọn đàn anh Do Thái đang tìm cách hại Ngài, nhưng lại thấy Ngài cứ đường hoàng giảng thế họ bỡ ngỡ hỏi nhau:

-Đây không phải là người họ đang tìm giết ư ? Thế sao ông cứ công khai giảng dạy mà chẳng ai dám nói gì ? Hay có lẽ các ông thủ lãnh đã nhận Ngài là KiTô rồi chăng ?..

Nghe tiếng KiTô mấy người khác cải chính lại:

-Không, đời nào các ông ấy nhận, Đấng KiTô khi nào Ngài đến, có ai biết được tông tích của Ngài đâu. Còn như ông này, chúng ta đã biết ông phát tích tự đâu rồi.

Lời cải chính đó là phản ảnh một tin tưởng trong dân: Chúa Cứu Thế sẽ đến bất ưng, không ai dò được tông tích..Nhưng nghe họ bàn tán thế, Chúa đã nói to để hết mọi người hiểu, họ chỉ biết Ngài có một phần thôi, còn một phần nữa họ không biết. Ngài nói:

-A ! Các người ngờ là quen Ta và biết Ta bởi tự đâu ư ?…Các người nên biết Ta chẳng phải tự mình mà đến, và Đấng đã sai Ta, có quyền làm như vậy. Các người không biết Đấng ấy nhưng Ta, Ta biết lắm, vì Ta ở gần Ngài. Ngài là Đấng chân thật và chính Ngài đã sai Ta.

Nghe tuyên bố như thế, tụi Biệt Phái giận đến tím ruột thâm gan, hiểu Ngài xưng mình là Con Thiên Chúa, họ muốn bắt và hành hung Ngài ngay. Nhưng họ lại sọ, vì nhiều người trong dân đã tín phục Ngài và cón nói với nhau: Khi Đấng KiTô hiện đến, vị tất Ngài đã có thể làm được phép lạ hơn ông này ? Nhưng nếu vì sợ, bọ Biệt Phái không dám đích thân bắt Chúa, thì họ cũng không bớt oán giận Ngài. Trái lại họ đã xui các trưởng tế phái cảnh vệ đến bắt Ngài. Nhưng rồi lúc cảnh vệ đến, chính bọn này cũng sợ không dám bắt.

Trước cảnh lố bịch đó, Chúa ung dung mỉm cười rồi lại phán:

-Đừng sợ, Ta chỉ còn ở giữa các ngươi một ít nữa rồi Ta sẽ trở về với Đấng đã sai Ta.

Bấy giờ các người sẽ tìm Ta, nhưng không thể thấy nữa, vì các người không thể đến nơi Ta sẽ ở.

Ý Chúa muốn nói: Ngài sẽ về với Cha Ngài ở trên trời. Nhưng dân không hiểu thế. Họ lại tưởng Ngài sẽ bỏ đất Palestine để đi truyền đạo ở ngoại quốc, nên họ bảo nhau:

-Ông này sẽ đi đâu mà chúng ta không tìm thấy ? Hay ông định đến với những kiều bào ở ngoại quốc ư ? Hay là ông muốn truyền đạo cho những dân ngoại giáo ? Lời ông vừa nói Các người sẽ tìm Ta mà chẳng thấy, vì các người không thể đến nơi Ta sẽ ở lời đó nghĩa là gì ?

Thấy họ hoang mang và có những ý nghĩ sai lầm thế, Ngài thương tình chỉ cho họ lý do vì sao họ không hiểu lời Ngài mới nói. Lý do đó là bức tường tội lỗi đã che khuất ánh sáng siêu nhiên không để họ nhận thấy sứ mạng của Ngài. Ngài phán:

-Phải, Ta đi mà các người sẽ tìm mà chẳng thấy, cũng như chẳng thể đến nơi Ta ở được, vì các người sẽ chết trong tội của các người.

Tuy nhiên đối với họ câu nói đó vẫn còn tối nghĩa…Họ không thể thoát ra ngoài cái ý nghĩ. Lẽ tự nhiên người này đi đâu, người kia cũng đi được chứ. Nhưng giữa lúc họ còn đang bàn tán xôn xao, một người trong bọn Biệt Phái đã nghĩ ra một cách chế diễu Ngài. Hắn đưa ra một câu trào phúng:

-Ông này toan tự sát hay sao mà cứ nói mãi: chỗ Ta đi các người không thể đến được. Phải, nếu ông tự sát, xác ông sẽ bị vất vào thung lũng Hinnon, hồn ông sẽ xuống hỏa ngục. Và như vậy, hẳn chúng ta không thể theo được thật. Nhưng không thèm chấp lời châm biếm ấy, Chúa cũng vạch rõ lý do tại sao họ không tin theo Ngài:

-Không phải thế đâu, nhưng chỉ vì các ngươi ở dưới thấp. Còn Ta, Ta ở trên cao. Các người bởi cái thế gian khốn nạn này. Còn Ta, Ta không phải bởi thế gian. Ta bảo thật, các người sẽ chết trong tội các người. Phải, các người sẽ chết trong tội, nếu các người không tin Ta.

Họ đồng thanh hỏi:

-Nhưng tin ông là ai mới được chứ ?

Chúa trả lời:

-Điều đó Ta đã nói nhiều lần rồi, chẳng cần phải lập lại nữa…một điều cần hơn, là Ta sẽ xét xử việc các người, và về điểm đó, Ta sẽ chẳng thiếu cái phải nói với các người.

Họ vẫn chưa hiểu Ngài nói với họ về Cha Ngài, nên ngẫm nghĩ một lát Ngài lại nói:

-Quả thực, Đấng đã sai Ta, là nguồn sự thật, và Ta dạy cho thế giới những điều Ta đã lãnh nhận bởi Ngài. Ngài chính là Cha Ta, Ta phụng sự Ngài và tìm lợi ích của Ngài,

chứ không tìm lợi ích cho Ta. Một ngày kia khi các người treo Con Người lên, bấy giờ các người sẽ thấy quả thực Ta không tìm lợi ích của Ta, Ta không làm gì tự ý Ta, nhưng ta đã làm và nói đúng như Cha Ta đã dạy. Đấng đã sai Ta hằng ở với Ta, và không bao giờ bỏ Ta, vì Ta luôn luôn làm theo điều Ngài muốn.

Những lời Chúa phán trên đây tuy làm bọn Biệt Phái và Luật sĩ tức bực, nhưng cũng làm tăng số những người tín phục. Những người này phục Chúa ở chỗ Ngài vẫn giữ thái độ bình tĩnh đáng khen trước địch thủ, vẫn diễn tả một cách rất tài tình, những giáo lý lạ lùng và cao đại, nên họ đã kính nhận Ngài là vị giải phóng của muôn dân. Tuy nhiên đức tin của họ vẫn còn non yếu, nên Chúa lại dạy họ phải vững tin hơn, phải đem đức tin vào hành động, để sự Thật sẽ cứu độ khỏi ách nô lệ và cho họ một đời sống tự do, một đời sống giải thoát. Ngài phán:

-Tin chưa đủ, các người còn phải thực hiện những lời nói của Ta. Các người có vững vàng làm theo giáo lý của Ta, các người mới là môn đệ của Ta thực, các người mới thoát ách nô lệ và được sự thật giải phóng.

Tuyên bố những lời trên đây, Chúa muốn dạy rằng: Phàm ai thực hiện giáo lý của Ngài, người ấy sẽ kềm chế được những dục vọng của mình, sẽ cởi bỏ được ách nặng của tội ác, sẽ được tự do đi vào con đường sáng của sự thật, tức là con đường nhân đức.

Đó là cuộc giải phóng vĩ đại Ngài đem lại cho thế giới, nhất là cho những kẻ tin phục Ngài. Cuộc giải phóng đó sẽ cải thiện các nhân cũng như đoàn thể, làm cho các dân tộc trên hoàn cầu biết thương yêu nhau, liên kết với nhau trong hòa bình, an vui và hạnh phúc. Nhưng trái lại bọn Biệt Phái có muốn hiểu theo ý đó đâu. Vừa nghe những tiếng

thoát ách nô lệ và được tự do lòng tự ái của họ đã nhảy lên như con ngựa bị thúc. Họ đối lại Chúa rằng:

-Chúng tôi vẫn tự do; chúng tôi là miêu duệ ông Abraham, chúng tôi có làm nô lệ ai bao giờ mà ông phải nói giải phóng ? Vì lẽ gì ông bảo chúng tôi: Các người sẽ được tự do ?

Chúa đáp lại:

-Phàm ai phạm tội, người ấy là nô lệ của tội. Và nô lệ không có quyền được ở trong nhà. Quyền đó là của người con. Bởi vậy cần Con Người phải giải phóng các người khỏi ách nô lệ, để các người được tự do, một tự do đích thực. Các người nói các người là miêu duệ ông Abraham ư ? Quả thực Ta cũng biết thế. Nhưng các người có hành động như con cháu ông Abraham đâu ! Chứng cớ các người đang tìm cách giết Ta và chỉ trích những lời Ta nói, chính Ta với tư cách một hiếu tử. Ta luôn luôn chỉ cho các người những điều Ta đã thấy ở nơi Cha Ta. Nhưng các người luôn luôn hành động theo những đứa con của người khác, chứ không phải của Abraham !

Họ nhao nhao phản đối:

-Ô kìa ! Cha chúng tôi không phải là Abraham ư ?

Chúa vặn lại:

-Nếu các người là con cháu Abraham, các người cũng phải hành động như Abraham chứ ? Các người đang tìm cách giết Ta vì Ta đã nói sự thật, một sự thật Ta đã thụ lĩnh bởi Chúa Trời. Vậy ông Abraham có hành động như thế không ? Hẳn không. Quả thực các người đã hành động như những đứa con của một người khác, chứ không phải của Abraham.

Những lời Chúa phán đã quá đủ để tỏ rõ bọn Biệt Phái chỉ là con cháu ông Abraham về phần xác; còn về tinh thần, họ quả là nô lệ, là con của ma quỷ vì họ đang tìm cách hại Ngài. Nhưng càng bị Chúa kết, họ càng bực tức và cố tìm lối thoát, chứ không chịu thú nhận và hối cải. Họ đối lại:
-Nhưng chúng tôi có phải là những đứa con bất hợp pháp, những đứa con ngoại tình đâu . Trái lại chúng tôi còn có một người Cha chung duy nhất là Thiên Chúa.
Chúa đáp lại:
-Thiên Chúa là Cha các người ư ? Nếu thế, nếu thế các người sẽ quý mến Ta, vì Ta bởi Thiên Chúa mà phát hiện và do lệnh của Ngài mà đến. Ta đã chẳng tự ý riêng mà đến, nhưng chính Ngài là Đấng đã sai Ta ! Lời nói của Ta đã làm các người tức tối: Quả thực Cha của các người chỉ là ma quỷ, nên các người chỉ lo thực hiện chương trình của nó. Xưa nay nó vốn là kẻ sát nhân, luôn luôn làm điều bất chính. Nó không có sự thực; sản nghiệp của nó là gian dối. Nó chuyên môn lường gạt, nó là cha sự dối trá. Phần Ta, chỉ vì Ta nói sự thật, nên các người không tin. Hỏi trong các người có thể bắt bẻ Ta về một tội gì, thế mà sao các người không tin ? Ai bởi Đức Chúa Trời, người ấy nghe lời Đức Chúa Trời. Nhưng các người, các người đã bưng tai chẳng muốn nghe. Điều đó đủ tỏ các người chẳng phải bởi Đức Chúa Trời.
Lời Chúa quả là một đòn chí tử trực tiếp nện xuống đầu tụi Biệt Phái làm cho họ tức bực quá, đâm nói bậy. Họ ngang nhiên gọi Ngài là quân Samaria (dân ngoại đạo)và là người quỷ ám. Họ lớn tiếng thóa mạ:
-Hỡi quân Samaria, hãy im đi !…Đã rõ rệt mi là người điên, là người bị quỷ ám !
Nhưng Chúa vẫn thản nhiên và giọng Ngài càng uy nghi mạnh mẽ:
-Ta không điên, cũng không bị quỷ ám chút nào. Ta chỉ bênh vực danh dự của Cha Ta. Các người đã thóa mạ Ta một cách bỉ ổi. Nhưng thôi, mặc…Ta không tìm danh giá của Ta. Đã có Đấng tìm hộ và sẽ xét xử. Một lần nữa, Ta bảo các người, ai giữ lời Ta, không bao giờ người ấy sẽ phải chết.
Chúa nói về sự chết thiêng liêng của linh hồn. Nhưng tụi Biệt Phái còn cố hiểu theo nghĩa đen và cãi lại:
-Quả thực đã rõ như ban ngày, ông là người bị quỷ ám trăm phần trăm. Ông Abraham đã chết, cả các tiên tri cũng vậy, thế mà ông dám nói: Ai giữ lời Ta, không bao giờ người ấy sẽ phải chết. Ông có trọng hơn ông Abraham và các tiên tri không ?
Thế mà ông Abraham đã chết, các tiên tri đã chết. Vậy ông dám tự phụ khoe mình là ai ?
Chúa Giêsu đáp:
-Nếu Ta tự ý hiển vinh danh Ta, danh của Ta sẽ là hư giả. Nhưng chính Cha Ta là Đầng làm rạng danh Ta, Cha Ta là Đấng các người gọi là Thiên Chúa của các người. Các người không biết Ngài, còn Ta, Ta hiểu biết Ngài. Giả thử Ta nói không hiểu biết Ngài. Ta cũng sẽ là kẻ nói dối như các người. Nhưng thực Ta biết Ngài và giữ lời Ngài.
Quả thực, Ta còn trọng hơn Abraham tổ phụ của các người. Abraham đã nhảy mừng khi tưởng thời giờ Ta sẽ đến. Ông đã được thấy ngày giờ đó và mừng vui.
Cả thính giả đều xôn xao hỏi Chúa:
-Lạ thực ! Ông chưa tới năm mươi tuổi mà dám tự phụ đã thấy ông Abraham ?
Sắc mặt Chúa vẫn thản nhiên, cử chỉ của Chúa vẫn vững vàng. Ngài nhấn mạnh từng tiếng, giọng quyết liệt:
-Quả thực, quả thực, Ta bảo các người, trước khi có Abraham. Ta vẫn có.
Nghe Ngài nói thế, nhiều người bực hết sức, cho là Ngài quá táo bạo, dám xưng mình là Thiên Chúa, là Tự Hữu. Riêng bọn Biệt Phái họ phẫn nộ đến điên lên. Miệng họ la:
Quân phạm thượng, quân lộng ngôn !.. Và họ nhặt lấy những hòn đá rải rác ở đấy ném bừa vào Ngài để Ngài chết gục ngay dưới trận mưa đá.
Nhưng Ngài đã nhanh chân, lẩn vào đám người đang diễu trong Đền thờ và thoát khỏi bọn chúng.

Chuyên Mục: Quãng Đời Công Khai 

Vâng lời chân chính là trong những việc không hợp với ý riêng mình, mà vẫn thực hành nó cách vui vẻ thì mới nhìn rõ được.- Thánh Alfonsus Maria de Liguori

       Tháng Mười: Ý Cầu Nguyện của Đức Thánh Cha
               Chúa Cha phán dạy con cái của Ngài
Năm Thánh Kỷ Niệm 100 Năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima

Chúa Nhật 29 TN A | Chúa Nhật 28 TN A

| 5 Phút Cho Lời Chúa | Sống Tin Mừng với Mẹ Maria

Bài liên quan: