Khi
Nhung về đến nhà thì trời đã tối mịt. Nàng gõ cửa
rất lâu mới thấy tiếng bà cụ ho sù sụ rồi tiếng lách
cách mở cửa. Bước vào nhà, đóng cửa lại cho thật kín,
nàng trách nhẹ mẹ:
-
Con đã thưa với mẹ nhiều lần, trước khi mở cửa, mẹ
phải hỏi xem ai đã. Thời buổi này phải cẩn thận mẹ
ạ.
Bà
cụ cười hiền lành:
-
Ừ nhỉ, mẹ quên. Thôi thế từ bây giờ chắc chắn là
mẹ nhớ.
Rồi
bà cụ xích lại gần bếp lửa, thu mình co ro, hai tay hong lên
ngọn lửa hồng cho ấm.
Nhung
đặt mấy bị quần áo cũ xuống góc nhà rồi cũng đến
ngồi cạnh mẹ. Hai mẹ con yên lặng một lúc lâu. Chợt
nhớ ra điều gì, Nhung đứng lên lục cái giỏ để gần
mấy bị quần áo, lấy ra một túi giấy dầu nhỏ. Nàng đem
túi giấy lại gần mẹ, mở ra cho bà cụ thấy ba cái bắp
luộc trong ấy, rồi nói:
-
Mẹ chịu khó dùng tạm vậy nhé. Bắp non luộc chín, ăn
ngon và lành lắm.
Bà
cụ ngước nhìn con gái, đôi mắt hấp háy. Bỗng nhiên bà
nắm lấy tay con, sụt sùi:
-
Mẹ không ngờ có năm sáu đứa mà bây giờ chỉ nhờ được
có con. Các anh con không biết bây giờ ra làm sao rồi...
Những
giọt lệ nóng giàn giụa trên đôi má nhăn nheo của bà.
Nhung thương mẹ quá, nàng vuốt đôi bàn tay xương xẩu
gầy guộc của mẹ, an ủi:
-
Thôi mẹ, đừng lo nghĩ nhiều thêm nữa. Chúa sẽ phù hộ
cho các anh con.
Rồi
nàng ép mẹ ăn bữa tối đạm bạc. Bà cụ trệu trạo
ngồi nhai bắp luộc. Nhung nhường cho mẹ hai chiếc, mình ăn
một. Sức nàng đủ để ăn một lúc hết veo ba cái bắp
con con này, nhưng vì muốn nhường mẹ, nàng nói dối là mình
đã no, ra chợ có bạn mời ăn bánh.
Ngoài
trời, gió vẫn thổi rít từng cơn, rừng thông ở dưới
thung lũng reo lên nhưng tiếng trầm và buồn. Những cây thông
xanh tươi trải dài trên khắp vùng cao nguyên này hình như
không hề biết thông cảm với cái lạnh lẽo mà con người
phải chịu trong những tháng cuối năm.
Nghe
tiếng thông reo, Nhung mơ màng nghĩ đến căn phòng của nàng
ở ngôi nhà cũ. Ngôi nhà đẹp nhất nhì của thị xã Đà
Lạt, nằm biệt tịch trên một ngọn đồi thấp. Ngôi nhà
mà những người bạn của anh Nhu, mỗi dịp Giáng Sinh hay Hè
từ Sài Gòn lên chơi đều trầm trồ khen ngợi.
Đó
là một ngôi biệt thự quét vôi màu trắng, xây cất theo
lối Pháp, vừa kiên cố lại vừa thanh lịch. Phòng khách
rộng với bộ đèn chùm từ trên trần tỏa xuống một
thứ ánh sáng vàng, trong trẻo và ấm cúng. Lò sưởi trong
phòng khách, vào những ngày mùa Đông, ánh lửa bập bùng làm
ấm cả căn phòng. Nhung rất thích những buổi tối có các
anh bạn của anh Nhu lên chơi. Các anh ngồi chung quanh lò sưởi
nói chuyện, đôi khi tranh luận về một tư tưởng triết
học, có lúc bình thơ và cũng thỉnh thoảng cùng nhau hát
những bài tình ca thời thượng nhất. Tiếng đàn guitar
của anh Hưng sao mà gợi cảm và xúc động lòng người đến
thế. Một vài lần các anh uống rượu mạnh, nhưng thường
thường thì trong những buổi tối như thế, các anh uống rượu
nho mua của một nhà dòng gần đó. Nhung ngồi yên lặng
ngoan ngoãn như một con mèo, không có ý kiến gì, vả lại cũng
không ai hỏi nàng. Nhung còn bé quá, mới chỉ là cô bé
lớp Mười trường Bùi Thị Xuân. Thỉnh thoảng anh Nhu
liếc trước liếc sau xem có bố mẹ đâu đó không, rồi
khi thấy an toàn, anh trao vội cho Nhung ly rượu nho của mình.
Nhung kề môi vào miệng ly, nhấp một chút. Đôi môi nàng tê
dại, còn toàn thân thì nóng ran. Hình như lúc đó, đôi môi
Nhung mọng chín, đỏ tươi như một trái anh đào, má nàng
hồng lên, còn đôi mắt thì long lanh rạng rỡ. Có vài anh
nhìn Nhung đăm đăm, và Nhung thừa biết rằng: trong thâm tâm,
các anh đang thầm khen Nhung đẹp quá.
Trong
ngôi biệt thự màu trắng đó, Nhung có một căn phòng riêng,
cạnh phòng mẹ. Phòng của nàng nhỏ xíu, chỉ kê vừa một
chiếc giường, một cái bàn học với hai cái ghế, nhưng
Nhung yêu quí căn phòng vô cùng. Đi đâu về, vào phòng, đóng
cửa lại, nằm trên chiếc giường con êm ái của mình,
Nhung thấy an toàn quá. Nàng cảm thấy hạnh phúc trong cái
thế giới bé nhỏ riêng biệt của nàng. Phòng có cửa sổ
bằng kính nhìn ra vườn sau, và xa hơn nữa, phía bên kia hàng
rào trắng là một vùng xanh tươi ngát mắt của một ngọn
đồi kế tiếp, ngọn đồi không có nhà cửa, chỉ có toàn
cỏ lau! Nhung thường đứng ở cửa sổ kính phòng nàng nhìn
sang đồi cỏ ấy, và nàng khám phá ra rằng bông cỏ lau bình
thường thì màu trắng ngả sang xám, nhưng nếu nhìn cả
một đồi cỏ lau thì đồi đó mang một màu tím nhạt,
một màu tím êm đềm và có chứa đựng trong đó một nỗi
buồn kín đáo. Nhung gọi đó là “nỗi buồn cỏ lau”
và thích cái chữ mình đặt ra ấy lắm, đến độ có lần
suýt nữa nàng làm được một bài thơ mang tựa đề “Nỗi
buồn cỏ lau”, rất tiếc là nàng chỉ làm được đến
câu thứ ba thì không tài nào gieo vần tiếp sang câu thứ tư
nữa. Bài thơ “dang dở” ấy được cất kỹ trong ngăn kéo
của Nhung cả năm trời. Nhung cũng thường so sánh màu tím
buồn buồn ấy với màu xanh tươi quanh năm của đồi thông.
Trên cùng một diện tích, mà phía bên trên là màu xanh tươi
mát yêu đời, phía bên dưới lại là màu tím u buồn tĩnh
mặc. Nhung linh cảm rằng cuộc đời cũng có nhiều mặt, cũng
phiền toái như thế. Và với ý nghĩ đó, Nhung cho rằng mình
đã nảy sinh một tư tưởng triết học! Nàng định mùa Giáng
Sinh năm tới, khi những người bạn của anh Nhu lên chơi, và
khi họ ngồi uống rượu nho, bàn luận triết học chung
quanh lò sưởi, nàng sẽ rụt rè đưa quan niệm của mình ra
xem sao.
Thế
nhưng, từ khung cửa kính nhìn ra bên ngoài, không phải Nhung
chỉ nhìn thấy đồi cỏ và những ngọn cây thông. Gần hơn,
ngay cạnh bờ tường là một luống hoa. Đó là giống hoa vàng,
hình dáng như hoa huệ. Luống hoa này bắt đầu từ bờ tường
phía bên phòng mẹ, lan qua tận phía bên phòng Nhung. Màu vàng
của hoa đủ tươi tắn để người nhìn cảm thấy yêu đời
vui vẻ, nhưng không rực rỡ đến độ trở thành màu vàng
của vua chúa hay những bậc quyền thế. Nhiều lần Nhung ra
vườn sau, nàng ngồi xuống bên cạnh luống hoa, cúi mình trên
bông hoa và quan sát từng sợi gân nhỏ li ti trên từng cánh.
Cái màu vàng của bông hoa thật tuyệt vời, Nhung nghĩ khó mà
co họa sĩ nào pha màu cho thật giống được. Một chút
phấn, màu vàng nhạt hơn bám nhẹ trong lòng hoa, và từ lòng
hoa ấy, những nhụy đực nhụy cái vươn dài ra như râu
của những con bướm vẫn thường rủ nhau bay rợp vườn nhà
nàng những ngày nắng ráo. Nhung đắm mình trong sự quan sát
bông hoa, nàng muốn học ở bông hoa vẻ tươi tắn một cách
khiêm nhường và bình dị của nó; và nàng thấy rằng khám
phá, học hỏi về nó cũng kỳ diệu và thích thú không kém
khám phá, học hỏi về những hành tinh trong thái dương
hệ.
Nhung
không biết hoa tên gì, nhưng thấy hoa được trồng ở
nhiều nơi, có khi mọc dại cả ở chân đồi hay trên bờ
những đường nhỏ trong thành phố. Nàng hỏi các bạn, nhưng
những đứa bạn vô tư ấy cũng không biết nốt, thấy
Nhung thắc mắc mãi, chúng chê Nhung là “con bé lẩm
cẩm”, Nhung chỉ cười, im lặng, nàng biết mình không
lẩm cẩm, vì linh cảm rằng loài hoa vàng này có một cái tên
gì khác với những bông hoa vàng thường thấy.
Cho
đến một ngày, khi hai mẹ con đi dạo ngoài vườn sau,
chợt nhìn thấy những bông hoa vàng đó, Nhung nắm cánh tay
mẹ, hỏi:
-
Mẹ, hoa này tên gì?
Mẹ
cười hiền lành:
-
Có người gọi nó là Huệ Vàng. Nhưng thật ra nó là Cỏ
Huyên đấy con ạ.
Nhung
ngơ ngác:
-
Nó là hoa mà mẹ, đâu phải là cỏ.
Mẹ
lại cười:
-
Cây cối có loài mộc và loài thảo. Loài mộc có thân gỗ
cứng cáp như cây thông. Những loài thân mềm ẻo lả thì là
thảo. Hoa cũng thuộc loài thảo, cỏ cũng thuộc loài thảo.
Người xưa dịch tên hoa này từ chữ Hán ra tiếng Việt,
gọi là Cỏ Huyên, nhưng nếu con không thích thì cứ gọi là
Hoa Huyên cũng đâu có sao.
Nhung
mường tượng như nàng đã nghe thấy hai chữ Cỏ Huyên ở
đâu rồi. Nàng nói với mẹ về sự mường tượng ấy.
Mẹ bảo:
-
Thì chắc chắn là con đã nghe về hai chữ này rồi chứ còn
mường tượng gì nữa. Trong văn chương cổ, cây Xuân được
dùng để chỉ người Cha, cây Cỏ Huyên được dùng để nói
về người Mẹ. Ngày xưa con cái thường trồng Cỏ Huyên trước
phòng của Mẹ để cầu mong cho mẹ được sống lâu và vui
vẻ...
Nhung
liến thoắng ngắt lời mẹ:
-
Con nhớ rồi. Thơ cổ có câu “Xuân Huyên hai cội đã già”,
ý muốn nói Cha Mẹ đều đã trọng tuổi...
Và
nàng lại thắc mắc:
-
Nhưng con chẳng biết tại sao trồng cây cỏ Huyên trước phòng
mẹ lại có ý chúc cho Mẹ được sống lâu và vui vẻ...
Mẹ
nàng trả lời thật rành rẽ:
-
Bởi vì theo sách, Cỏ Huyên còn có một tên nữa là Vong Ưu
Thảo, có nghĩa là thứ cỏ làm quên đi nỗi buồn phiền.
Không buồn phiền thì sẽ vui vẻ, mà vui vẻ thì sống lâu.
Mẹ
cười, Nhung cũng cười. Nụ cười của mẹ trong nắng sao mà
tươi tắn quá. Trong chốc lát, Nhung mong sao luống Cỏ Huyên
ở bên bờ tường phòng Mẹ xanh tốt mãi, hoa vàng nở thêm
nhiều mãi, và mẹ sẽ tươi trẻ mãi, sống thật lâu với
bố, với anh em nàng.
Thế
nhưng, Nhung vẫn chưa hết thắc mắc, nàng rụt rè hỏi
mẹ:
-
Nhưng mà, mẹ có biết tại sao người ta lại gọi Cỏ Huyên
là Vong Ưu Thảo không?
Mẹ
lặng yên, suy nghĩ một chút rồi trả lời:
-
Cái này thì mẹ không biết chắc lắm, nhưng cũng nói cho
con nghe theo sự suy đoán của mẹ. Cỏ Huyên, khi ngắt đem
về, phơi khô, trở thành một món ăn có dược tính, đó là
món Kim Châm, cái sợi vàng nâu nâu mà mỗi khi mẹ nấu món
hầm hay món tiềm thường cho vào đấy. Sách thuốc nói
rằng Kim Châm ăn rất mát, giải nhiệt. Mà khi người ta ăn
Kim Châm vào, nhiệt được giải, trong người mát mẻ
thoải mái, thì người ta tất quên đi được những mối
buồn phiền.
Hai
mẹ con lại cười. Nhung không ngờ mẹ biết nhiều quá.
Mẹ cắt nghĩa còn rành rẽ hơn cả cô giáo Quốc văn trong
lớp. Kim Châm, cái món ăn ngon, không ngờ lại có sự tích
kỳ bí như thế. Và Nhung nghĩ: “Được rồi, mùa Giáng
Sinh năm nay, khi các anh lên chơi, ngoài câu chuyện triết
học cuộc đời nhiều mặt và phiền toái như ngọn thông
xanh và màu tím cỏ lau, ta còn có chuyện để góp về Cỏ
Huyên, Vong Ưu Thảo và Kim Châm, nếu các anh đọc thơ cổ
rồi, các anh sẽ thấy ta không còn là trẻ con nữa. Ta đã
thành người lớn.” “Người lớn”, đây thật là một
thế giới hấp dẫn mà Nhung hăm hở muốn bước vào.
*
* *
Nhưng
mùa Giáng Sinh như Nhung dự liệu đã không bao giờ xảy ra.
Thời gian thì vẫn đem Giáng Sinh đến, nhưng những diễn
tiến và khung cảnh mà Nhung tưởng tượng ra thì không hề
có. Tháng Tư năm ấy, khi những con người hung dữ từ
miền Bắc tràn vào miền Nam và chiếm trọn cả mảnh đất
này thì mọi sinh hoạt, mọi khung cảnh đều thay đổi. Bố
tử trận ngay trong trận đánh tại thị xã Đà Lạt. Những
ngày sau đó, gia đình phân tán. Anh Nhu và hai người anh kế
Nhung vào Sài Gòn. Sau đó có tin ba anh em đã vượt thoát ra
nước ngoài. Có tin như vậy thôi, chứ cho đến nay, bao nhiêu
năm tháng trôi qua, hai mẹ con Nhung vẫn không nhận được
một tin tức trực tiếp nào của ba người. Người anh
thứ, sĩ quan cấp tá bị đưa ra ngoài Bắc “học tập
cải tạo”, hai mẹ con Nhung chưa hề ra thăm được lần nào.
Cuộc sống thật khổ cực lam lũ và thiếu thốn, từ ngày
gia sản bị tịch thu và hai mẹ con bị đuổi ra khỏi ngôi
biệt thự màu trắng.
Khi
hai mẹ con gom góp một ít quần áo cũ để ra khỏi nhà, trước
những con mắt ốc nhồi trừng trừng của cán bộ và công
an, Nhung cắn chặt môi để không bật ra tiếng khóc, và
nhất quyết không để cho giọt lệ nào được phép lăn trên
đôi má nàng. Nhung rất dễ khóc, nàng khóc tự nhiên cũng
như khi nàng cười, nói. Nhưng trong lúc này, nàng cả quyết
không để cho mình rơi lệ trước mắt những con người này.
Nàng muốn tỏ cho họ biết nàng xứng đáng là con của
Bố, một sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
khóc bây giờ là hèn, là sỉ nhục vong linh Bố.
Nhung
bước vào phòng mình một lần cuối. Nước mắt nàng chỉ
chực trào ra khiến Nhung phải cắn chặt môi đến rướm máu.
Căn phòng nhỏ yêu quí, căn phòng thế-giới-riêng của nàng,
căn phòng giữ cho nàng biết bao nhiêu kỷ niệm, niềm vui và
nỗi buồn. Chiếc giường con xinh xắn này, biết bao lần nàng
đã nằm trên ấy, mơ những giấc mơ tuyệt vời của tuổi
mới lớn, những giấc mơ có hoa và bướm, có nàng công chúa
ngủ trong rừng và chàng hoàng tử xinh trai. Cái bàn học và
chiếc ghế con con này, biết bao lần nàng đã ngồi ở đây,
học bài làm bài, đọc những bức thư tình ngây ngô của
mấy cậu con trai trường bạn, và tập làm thơ. Khung cửa kính
nhìn ra vườn sau kia, khung cửa mà biết bao lần Nhung đã đứng
ở đó, nhìn sang ngọn đồi bên cạnh, ngắm nhìn màu tím
nhạt dịu dàng của bông cỏ lau và màu xanh ngát mắt của
những ngọn thông hùng vĩ; biết bao lần cũng từ đó nàng
cúi nhìn luống hoa Vong Ưu Thảo màu vàng tươi tắn. Vong Ưu
Thảo... Nhung lại muốn khóc, từ nay đến hết cuộc đời,
biết bao giờ Mẹ quên được nỗi buồn của Mẹ?
Còn
một chút nữ trang cất giấu, và với sự giúp đỡ ít
nhiều của họ hàng, hai mẹ con kiếm được một căn nhà
nhỏ tồi tàn. Nhung không buồn, không mặc cảm. Nàng và gia
đình nàng chưa hề làm điều gì xấu, và dù bọn người này
có gọi Bố bằng bất cứ danh từ xấc xược nào đi nữa,
Bố vẫn luôn luôn là hình ảnh cao quí, đáng trọng đáng yêu
trong trái tim nhỏ bé của Nhung. Nhung chỉ thương cho Mẹ.
Mới ít lâu mà Mẹ già đi trông thấy. Tuổi tác không có tác
dụng nguy hại cho bằng những đớn đau đè nặng trên người
Mẹ. Mẹ trở nên ít cười, trên khuôn mặt già nua ấy,
nụ cười thỉnh thoảng có xuất hiện thì cũng chỉ là
một nụ cười héo hắt, như một bông hoa tàn úa. Trông
mẹ già hơn tuổi thực của mẹ đến cả hai mươi năm.
Nhung
thích ứng với cuộc đời rất sớm. Nàng không ngờ mình
quen với những vất vả thể xác nhanh đến như thế. Đôi
tay ngọc ngà trắng muốt của Nhung trước kia chỉ để
cầm bút và đánh dương cầm, bây giờ đã biết chẻ củi,
bưng vác những vật nặng. Và đôi vai thon “như cánh vạc
bay” của nàng bây giờ đã biết đưa ra khiêng gạo khiêng
khoai. Lũ người ấy vẫn lẩn quất chung quanh căn nhà mới
của mẹ con nàng, nơi nàng buôn bán, giương đôi mắt cú
vọ ra nhìn hình ảnh Nhung trong những công việc nặng nhọc
ấy một cách thích thú. Họ có cái thích thú của một người
hung ác cầm chiếc vợt đập cho một con chim yên đang bay
rớt xuống đấy, hay người lấy kim nhọn đâm vào con
chuột bạch cho nó kêu rít lên. Nhưng Nhung không kêu, không
than thở. Nàng chấp nhận hoàn cảnh mới một cách thản
nhiên và thách thức. Và thái độ này càng làm cho lũ người
kia tức tối.
Hai
mẹ con sống trong tình trạng bị giam lỏng. Không bao giờ
họ xin được giấy phép ra khỏi thị xã. Buổi tối họ không
được bước chân khỏi nhà, và Nhung chỉ được ra chợ
sau sáu giờ sáng. Kể ra thì có gò bó thật, nhưng Nhung không
sợ, nàng chỉ lo cho Mẹ. Càng ngày Mẹ càng già đi, da Mẹ
nhăn nheo và tính tình đã có triệu chứng của sự lẫn
cẫn. Nhiều lúc nhìn Mẹ ngồi ủ rũ bên cạnh lò sưởi,
Nhung thấy thèm quá nụ cười trong nắng của Mẹ vào một
ngày xa xưa trong vườn sau, khi Mẹ nói chuyện cho nàng nghe
về một loài hoa có tên là Vong Ưu Thảo.
Dù
có lên án, có cấm đoán thì khắp nơi chợ trời đã mọc
lên như nấm. Lúc đầu những chợ trời còn bị đuổi lên
đuổi xuống, bị tịch thu “tang vật”, người mua kẻ bán
bị giải ra trụ sở công an phường; nhưng riết rồi người
ta phải coi đó như một thực thể không thể không có trong
cái xã hội càng ngày càng tồi tàn rách nát. Nhung là một
“thành viên” tạo nên sự sầm uất của một trong những
khu chợ trời đó. Nàng mua đi bán lại những quần áo cũ.
Bạn bè thuở còn đi học của Nhung cũng không thiếu mặt
ở những khu chợ trời như thế, họ chỉ vẽ cho Nhung đủ
kiểu đủ cách để làm ăn buôn bán. Và cứ như thế, Nhung
nuôi mẹ sống qua ngày. Buổi tối, về nhà, tuy mệt đừ người,
Nhung vẫn dành ra thì giờ thủ thỉ chuyện trò với mẹ. Bà
cụ ở nhà thổi cơm nấu nước. Ngày nào nhà hết gạo, bà
cụ chỉ chờ xem con gái có mang được món nào ăn được
từ chợ về không. Bà không than thở, không kêu trách, nhưng
lúc nào trông bà cũng ủ dột.
*
* *
Bà
cụ vừa ăn xong hai cái bắp, uống hết ly nước thì ngoài
kia chuông nhà thờ đã đổ vang, gióng giả. Những con người
kia không thể ngăn cấm được niềm tin của con chiên. Khi
không ngăn cấm được, họ đành nhượng bộ, đôi khi còn
ra vẻ khuyến khích con chiên tổ chức những ngày lễ cho
lớn. Thế nhưng, thực ra bên trong, lúc nào họ cũng chỉ tìm
cơ hội tận diệt tôn giáo. Ai cũng biết điều ấy cả.
Tiếng
chuông vang lên, theo gió bay qua các nóc nhà, các thung lũng, núi
đồi, nương rẫy và rừng cây. Đêm nay là đêm Giáng Sinh,
đêm của An Bình và Hồng Ân Cứu Chuộc. Nhung vừa nghe
tiếng chuông, vừa nhìn mẹ. Bà cụ xoa xoa hai bàn tay vào
nhau, môi bà mím lại, rồi sau một lúc lâu cầm giữ, bà không
nín được nữa, bật khóc. Nhung thương mẹ quá, nàng chạy
lại ôm chầm lấy mẹ và cũng khóc. Đã lâu quá rồi Nhung
không khóc, nên đêm nay nàng khóc như chưa bao giờ được
khóc và sẽ không bao giờ được khóc nữa. Bọn người độc
ác cô lập mẹ con nàng, buổi tối không được ra khỏi nhà,
kể cả trong đêm Giáng Sinh. Năm ngoái, hai mẹ con đã thui
thủi ở nhà trong đêm Giáng Sinh, năm nay cũng vậy.
Nhung
tìm lại được sự bình tĩnh trước mẹ. Nàng lấy hai bàn
tay chùi nước mắt trên môi, trên má mình, rồi lau nước
mắt cho mẹ. Nhung nói:
-
Thôi mẹ, đừng khóc nữa. Mẹ vẫn nói với con là Chúa ở
khắp mọi nơi mà, chẳng cần phải đến nhà thờ mới
cầu nguyện được, mới mừng Chúa Giáng Sinh được. Chúa
ở mọi nơi, Chúa ở trong nhà này... Để con đọc Sách Thánh
cho mẹ nghe nhé.
Nhung
vào phòng trong lấy ra quyển Tân Ước nàng giấu được.
Hai mẹ con đứng lên. Nhung mở Tin Mừng theo thánh Luca, đọc
thật cung kính và chậm rãi đoạn Chúa Giêsu được sinh
hạ trong hang đá thành Bê Lem. Một sự an bình dần dần
thấm sâu vào trái tim nàng. Nhung thấy có cái gì ấm áp, không
những trong lòng nàng, mà hình như lan tỏa cả phòng. Đoạn
Tin Mừng được đọc dứt đã lâu, hai mẹ con vẫn im
lặng. Nhung ngước nhìn mẹ, hai mắt mẹ nhắm nghiền, nhưng
khuôn mặt mẹ thư thái và dịu dàng. Nhung tìm lại được
những đường nét thân quen trên khuôn mặt mẹ, những đường
nét mà nàng đã nhìn thấy ngày xưa, một ngày có nắng
trong vườn, hai mẹ con nói chuyện về Cỏ Huyên, về Vong Ưu
Thảo.
Bất
chợt, Nhung nắm tay mẹ nói khẽ:
-
Mẹ ơi, ngày mai con kiếm Vong Ưu Thảo về trồng trước
cửa nhà, mẹ nhé.
Bà
cụ như đang đắm chìm trong những phút cầu nguyện , chợt
giật mình vì cái nắm tay và câu nói của con gái, bà mở
mắt ra:
-
Tạ ơn Chúa... Cái gì, Vong Ưu Thảo à?
Bà
mỉm cười, nụ cười không rạng rỡ nhưng đầy vẻ bình
an. Rồi bà tiếp:
-
Ừ, ngày mai con kiếm Vong Ưu Thảo về trồng cho mẹ.
Hoa Hồng Nhà Kín
Quyên Di