ĐTC mong đợi gì nơi chúng ta trong năm đời sống thánh hiến?

1. Luôn luôn thể hiện niềm vui

Khi quảng diễn ý nghĩa bài đọc sách Dân Số kể lại hành trình trong sa mạc hướng về Đất Hứa, dân Chúa nổi loạn, kêu trách, không chấp nhận hồng ân và đường lối hành động của Chúa, ĐTC Phanxicô nhận xét rằng “Ngày nay, bao nhiêu tín hữu Kitô chết vì buồn sầu, kêu ca lẩm bẩm và không muốn đường lối hành động của Thiên Chúa, nên chúng ta hãy cầu xin ơn chấp nhận những lúc khó khăn, chấp nhận con đường Chúa dẫn chúng ta đi qua. Đó là một cách đi vào mầu nhiệm cuộc đời trong thánh ý Chúa: không sợ hãi hiện thực, không khóa mình trong bản thân, không chạy trốn những gì không hiểu được, không nhắm mắt và chối bỏ các vấn đề, không gạt đi những câu hỏi đặt ra cho chúng ta…

Trong lời mở đầu Tông Thư, ĐTC đã nhấn mạnh tới niềm vui: “Chúng ta cùng nhau tạ ơn Chúa Cha đã đổ tràn đầy con tim chúng ta Thánh Thần của Ngài, Đấng ban cho chúng ta niềm vui”. Phải, “ở đâu có các tu sĩ thì ở đó phải có niềm vui”, vì cảm nghiệm được Thiên Chúa làm đầy con tim mình khiến mình hạnh phúc khi sống tình huynh đệ cộng đoàn, và điều đó nuôi dưỡng niềm vui của chúng ta. Việc dấn thân phục vụ Giáo Hội, các gia đình, các người trẻ, các người già, các người nghèo cũng đem lại niềm vui cho chúng ta.

ĐTC mong đợi chúng ta đừng tỏ ra cho nhau khuôn mặt buồn sầu, không hài lòng, không thỏa mãn, dù chúng ta cũng có các khó khăn, những đêm tối tinh thần, những thất vọng, những bệnh tật, tuổi già sức yếu. Nếu trong hoàn cảnh này mà chúng ta học nhận ra được nơi bản thân mình và anh chị em chân dung của Chúa Kitô, Đấng vì yêu thương chúng ta mà không từ chối thập giá, thì chúng ta sẽ cảm nghiệm được niềm vui và niềm vui của chúng ta sẽ trọn vẹn.

Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng trích lại lời ĐGH Biển Đức XVI “Hội Thánh phát triển không phải bằng việc chiêu dụ, nhưng bằng sức thu hút”. Đúng vậy, chính niềm vui và hạnh phúc của chúng ta sẽ lôi kéo các thanh thiếu niên nam nữ và làm cho đời sống thánh hiến được tăng triển, chứ không phải bằng những kế hoạch tranh đua tìm kiếm cổ vũ ơn gọi. Một nữ tu già kia chia sẻ: “Tôi còn nhớ lúc chưa đến trường, chơi trong xưởng mộc của cha tôi, một nụ cười của một nữ tu sáng lên trong đứa trẻ là tôi. Từ đó, ước muốn của tôi là được giống như bà: “Khi lớn lên, tôi sẽ là nữ tu!” Dĩ nhiên lúc đó, tôi không biết đời sống tận hiến là đời sống như thế nào. Tôi không biết thế nào là một “nữ tu”. Nhưng trực giác cho tôi biết người đàn bà này hạnh phúc, và tôi cũng muốn được hạnh phúc như vậy!”

Chúng ta nhớ lời nhận xét của lương dân về cộng đoàn tín hữu đầu tiên “xem kìa, họ thương yêu nhau là dường nào”, nhờ đó lương dân gia nhập Đạo làm Giáo Hội phát triển. Cũng thế, công việc tông đồ của chúng ta chỉ hữu hiệu nhờ đời sống tỏa chiếu niềm vui và hạnh phúc của chúng ta khi sống Phúc Âm và đi theo Chúa Giêsu, chứ không phải do các phương tiện mạnh mẽ và hiệu năng. Giá trị của Giáo Hội tự nền tảng là do sống Phúc Âm và làm chứng tá cho đức tin, thực sự là muối đất và ánh sáng trần gian. Giáo Hội được kêu gọi làm cho men Nước Chúa hiện diện trong xã hội, và Giáo Hội thực hiện được điều đó bằng chứng tá tình huynh đệ, sự liên đới và chia sẻ. Cách chúng ta đón tiếp và phục vụ khách hành hương đến đan viện tĩnh tâm, cầu nguyện và học tập sẽ giúp đạt được những kết quả đó.

ĐTC Phanxicô đã liên hệ sự vui vẻ và sự thánh thiện: “Chúng ta chưa bao giờ nghe nói có một ông thánh buồn hay một bà thánh có bộ mặt đưa đám ma! Tín hữu Kitô là người có tâm hồn chất chứa bình an vì họ biết để niềm vui của họ vào Chúa khi đi qua những lúc khó khăn trong cuộc đời. Có đức tin không có nghĩa là không gặp khó khăn, nhưng có đức tin là có sức mạnh để vượt lên khó khăn, biết rằng chúng ta không một mình trước các khó khăn này. Và đó là bình an của Chúa cho các con cái của Người”.

Đối với tu sĩ chúng ta, những con người đi tìm chính Chúa hơn là công việc của Chúa, thì niềm vui vừa là một khả thể vừa là một đòi hỏi cho sứ mệnh chứng tá. Quả thế, việc dấn thân vì chính Chúa giúp chúng ta nhận biết Chúa là tuyệt đối và có qui chiếu tối hậu nơi Ngài, đến đỗi ngay cả giữa những cơn thử thách lớn lao và ngờ vực của đêm tối đức tin, chúng ta cũng cảm nhận được Chúa Là Tất Cả. Xác tín này cổ vũ dấn thân sống bền đỗ đời sống và sứ vụ ơn gọi trong mọi hoàn cảnh cuộc đời. Nó đem lại bình an và kích hoạt sức mạnh cần thiết để chúng ta sống vui tươi cuộc đời ơn gọi của mình, như ĐTC Phanxicô mong muốn chúng ta phải thể hiện niềm vui và một diện mạo nhân bản xuất phát từ việc nhận biết Chúa Giêsu: “Khi bước vào cuộc hành trình suy niệm về Chúa Giêsu Kitô, cầu nguyện và sám hối với Ngài, lòng nhân bản của chúng ta phát triển. Làm thế nào để thể hiện lòng nhân bản của mình? Thưa thông qua niềm vui, và ngày càng hân hoan hơn nữa! Tôi thật buồn khi nhìn thấy các nữ tu với khuôn mặt buồn rười rượi. Họ có thể mỉm cười, nhưng đó là một nụ cười giả tạo như những nụ cười của một tiếp viên hàng không. Không! Chị em hãy cho thấy nụ cười hân hoan đến từ niềm vui nội tâm nhé”.

Quả thế, một con tim đầy Thiên Chúa là một con tim hạnh phúc, chiếu tỏa và làm lan rộng niềm vui cho tất cả những người quanh mình, người ta sẽ nhận thấy ngay điều đó. Chính niềm vui ngời lên trong nụ cười và ánh mắt này biểu lộ việc chúng ta sống cao độ ba lời khấn Dòng của chúng ta, như ĐTC Phanxicô nhắc nhở: “Đức khiết tịnh, nghèo khó, vâng lời trở thành một chứng tá vui vẻ của tình yêu Thiên Chúa trong cách chúng ta bám trụ vững vàng trên tảng đá của lòng thương xót…  Chỉ khi nào chứng tá của chúng ta vui vẻ thì chúng ta mới lôi cuốn được giáo dân đến với Chúa Kitô; niềm vui này là ơn phúc được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện, chiêm niệm Lời Chúa, cử hành các bí tích và sống đời sống huynh đệ cộng đoàn. Khi thiếu những chuyện này, thì lúc đó yếu đuối và khó khăn sẽ xuất hiện, làm đen tối niềm vui mà chúng ta đã từng biết một cách mật thiết ở buổi ban đầu con đường chúng ta đi”.

Trong lời giới thiệu cuốn sách yêu là cho đi tất cả, Ngài viết: “Nét đẹp của đời tận hiến là niềm vui. Trong sự thánh thiện không có buồn bã. Niềm vui không phải là thứ trang sức vô ích, nó có tính cách đòi hỏi và là nền tảng của đời sống nhân loại. Trong những lo âu hàng ngày, mỗi người đều khát khao có được niềm vui và được ở trong niềm vui. Thường thường thế giới bên ngoài thiếu bóng niềm vui. Chúng ta không được gọi để thực hiện những hành vi lạ lùng cũng như tuyên bố những câu nói vang lừng, nhưng chúng ta được gọi để làm chứng cho niềm vui, một niềm vui đến từ xác quyết mình được yêu thương, mình được cứu rỗi. Chúa gọi chúng ta và nói với chúng ta: “Con quan trọng đối với Ta, Ta yêu con và trông cậy ở con”. Chúa Giêsu nói như vậy với mỗi người chúng ta! Và từ đó nảy sinh ra niềm vui! Niềm vui khi Chúa Giêsu nhìn tôi. Hiểu và cảm nhận điều này là bí ẩn niềm vui của tôi. Cảm nhận được Chúa thương, cảm nhận được rằng đối với Chúa chúng ta không phải là những con số, nhưng là những con người; cảm nhận chính Ngài đã gọi chúng ta… Ai đã gặp Chúa và trung tín theo Ngài thì người đó là sứ giả của niềm vui”.

ĐTC còn nói mạnh mẽ hơn rằng: “Một Kitô hữu không có niềm vui không phải là Kitô hữu. Một Kitô hữu cứ sống trong buồn bã không phải là Kitô hữu. Và một Kitô hữu, trong những lúc gian nan, bệnh tật, hay khó khăn mà mất bình an thì không là Kitô hữu. Niềm vui Kitô không đơn thuần là sự vui thú, không phải là một vui vẻ phù du: Niềm vui Kitô là một ơn của Thần Khí. Hãy có tâm hồn luôn vui mừng bởi Chúa Giêsu đã vinh thắng và đang ngự trị ở bên phải Chúa Cha, Chúa Giêsu đang nhìn xuống tôi và gọi tôi, ban cho tôi ơn của Ngài, cho tôi làm Con của Chúa Cha… Đây chính là niềm vui Kitô. Và một cộng đoàn không có niềm vui là cộng đoàn lâm bệnh. Có lẽ đó là một cộng đoàn thích vui thú nhưng nó đang dần lâm bệnh trần tục, bởi không có niềm vui của Chúa Giêsu Kitô. Do đó, khi không đón nhận niềm vui của Thần Khí thì Giáo hội lâm bệnh, cộng đoàn lâm bệnh, tín hữu lâm bệnh”.

Ngài còn nói mạnh hơn nữa rằng “thật kinh khủng khi gặp một giám mục, linh mục, hay tu sỹ ủ rũ, trì trệ và mệt mỏi. Người này như giếng cạn, và nơi đó người ta không thể tìm được nước để xoa dịu cơn khát của mình”.

2. Sống tính ngôn sứ để đánh thức thế giới

Tính cách tận căn của Phúc Âm đòi hỏi tất cả mọi người, nhưng điều làm nên đặc tính của người thánh hiến là đặc tính ngôn sứ, như Chúa Giêsu đã sống trên trái đất này. Vị ngôn sứ nhận từ Thiên Chúa khả năng thấu hiểu và giải thích các biến cố lịch sử: như người tuần canh trong đêm tối biết lúc hừng đông xuất hiện. Ngôn sứ hiểu biết Thiên Chúa cũng như hiểu biết anh chị em mình, có khả năng phân định và tố cáo các sự dữ cùng các bất công, nhưng không phải trả lời cho ai khác ngoài Thiên Chúa; ngôn sứ sống tự do, vì chỉ quan tâm cái thuộc về Thiên Chúa, chứ không phải tư lợi nào khác. Ngôn sứ thường đứng về phía người nghèo, người cô thân cô thế, vì biết rằng Thiên Chúa luôn đứng về phía mình.

Sứ vụ ngôn sứ bao gồm hai khía cạnh: Loan báo và sống tình yêu nồng cháy của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa, Nước Chúa, và dân chúng; đồng thời tố cáo thói giả hình, bất công, áp bức,… dù phải trả giá đắt của thập giá và cái chết. Tuy sứ vụ ngôn sứ là một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, vì phải đóng vai chỉnh sửa ở trong Giáo Hội cũng như ở ngoài Xã Hội, khi có quá nhiều áp bức bất công về xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo cực đoan, nhưng trong mọi tình huống, đều phải theo nguyên tắc của thánh Phêrô: “Các ông nghĩ thế nào cho phải lẽ trước mặt Chúa, vâng lời các ông hay là vâng lời Chúa? Chúng tôi vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời con người”.  

Thật lắm khi chúng ta cảm thấy bị cám dỗ muốn bỏ trốn và thoái thác trách nhiệm như ngôn sứ Êlia và Giôna, vì thấy quá nặng nề, mệt mỏi, chán nản. Nhưng hãy biết rằng chúng ta không cô đơn, vì Chúa vẫn trấn an chúng ta như đã trấn an ông Giêrêmia: “Đừng sợ, Ta ở với con để che chở con”. Chính trong tinh thần ấy mà ĐTC Phanxicô đã nói: “Hãy đánh thức thế giới! Hãy trở nên những chứng tá của một lối cư xử, một lối hành động, một lối sống khác! Sống một lối sống khác biệt là điều có thể trong thế giới này. Chúng ta đang nói dưới viễn tượng cánh chung về các giá trị của Nước Trời đã nhập thể tại đây, trong thế giới này. Vấn đề ở đây là từ bỏ mọi sự mà bước theo Thầy Giêsu bằng một cách thức đặc biệt, cách thức ngôn sứ. Đó chính là lời chứng mà tôi mong đợi nơi anh chị em. Các Tu sĩ cần trở thành những người nam và nữ có thể đánh thức thế giới”.

Có thể áp dụng cho người sống đời thánh hiến hôm nay trong việc đánh thức thế giới lời lẽ của Thư gửi cho Diognêtô nói về các tín hữu: “Họ ở trong các thành phố văn minh cũng như bán khai tùy theo số phận mỗi người đưa đẩy… Họ sống ở quê hương mình mà như những khách kiều cư… Miền đất lạ nào cũng là quê hương của họ, nhưng quê hương nào cũng là đất khách đối với họ… Họ sống trong xác thịt nhưng không theo xác thịt. Họ sống ở trần gian nhưng họ là công dân Nước Trời. Họ tuân hành luật pháp, nhưng cách sống của họ vượt trên những đòi hỏi của luật pháp. Họ yêu thương mọi người nhưng mọi người lại ngược đãi họ… Danh thơm của họ bị chà đạp nhưng bằng chứng về đời sống công chính của họ lại được phô bày. Bị nguyền rủa, họ chúc lành; bị đối xử nhục nhã, họ tỏ lòng kính trọng; khi làm điều thiện, họ lại bị trừng phạt như kẻ bất lương; khi bị trừng phạt, họ lại vui mừng như được sống… và những kẻ ghét họ không thể nói lý do tại sao lại căm thù họ… Hồn ở trong xác thế nào thì họ sống giữa thế gian cũng thế… Linh hồn ở trong thân xác nhưng không do thân xác thì họ cũng ở trong thế gian nhưng không bởi thế gian”.

Vì thế, chúng ta đừng dừng lại ở ranh giới phàm trần, mà phải biết tạo ra “các nơi chốn khác”, ở đó người ta sống lý luận của Phúc Âm, của ơn tận hiến, của tình huynh đệ, của việc đón nhận các khác biệt, của tình yêu hỗ tương. Chúng ta phải làm cho những nơi mình đang sống và làm việc, cũng như những nơi mà đức ái và tính sáng tạo của đặc sủng làm nảy sinh, trở thành men Phúc Âm cho xã hội, có thể nói lên sự thật và quyền năng của lời Chúa. ĐTC coi sứ vụ ngôn sứ của Nước Trời là điều ưu tiên trong đời sống thánh hiến, nhưng phải là ngôn sứ thực sự, không được giả hình giả bộ. Ma quỉ sẽ cố gắng cám dỗ chúng ta tỏ ra giống ngôn sứ và chỉ đóng vai ngôn sứ mà thôi, chứ không phải là những ngôn sứ đích thực. Không, chúng ta phải là những người thắp sáng con đường đi vào tương lai.  

Nhưng có một điều quan trọng khác mà ĐTC nhắc chúng ta trong Sứ điệp Mùa Chay 2015 là chúng ta đừng nghĩ chúng ta là ngôn sứ đi đánh thức thế giới, hay đánh thức người khác, mà chúng ta còn cần thức tỉnh lương tâm chúng ta, đánh thức chính mình, khi nghe lại lời các ngôn sứ, như Ca Dao Việt Nam thường nhắc “Nói người hãy nghĩ đến ta, thử sờ lên gáy xem xa hay gần”. 

3. Trở nên chuyên viên của hiệp thông

ĐTC Phanxicô mời gọi chúng ta trở nên những chuyên viên hiệp thông và mong muốn linh đạo hiệp thông mà thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề ra trở thành hiện thực, khi chúng ta đón nhận sự thách đố lớn lao ở trước mặt là làm cho Giáo hội thành ngôi nhà và trường học của hiệp thông. Ngài cũng mong ước chúng ta cố gắng làm cho lý tưởng huynh đệ mà các vị sáng lập theo đuổi được tăng trưởng ở mọi cấp độ.

Trước hết là hiệp thông huynh đệ trong cộng đoàn Dòng, bằng việc không để cư ngụ trong nhà chúng ta những lời chỉ trích, đàm tiếu, ghen tương, tị hiềm, đố kỵ; trái lại luôn đón tiếp và quan tâm lẫn nhau, thực hành sự chia sẻ những tài nguyên vật chất và tinh thần, chỉ bảo huynh đệ, tôn trọng những người yếu đuối. Chính huyền nhiệm chung sống với nhau này làm cho cuộc đời trở nên một cuộc lữ hành thánh thiện. Các cộng đoàn tu ngày càng có tính cách quốc tế vì bao gồm các thành viên thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau, nên chúng ta phải tự vấn làm thế nào để mỗi người có thể biểu lộ chính mình, được đón nhận với những ân ban đặc thù, được hoàn toàn đồng trách nhiệm để xây dựng tốt sự hiệp thông cộng đoàn này.

Tiếp đến là hiệp thông giữa các Dòng: mạnh dạn ra khỏi biên cương Dòng mình để cùng nhau thảo hoạch những dự án chung về đào tạo, loan báo Tin mừng, hoạt động xã hội, ở cấp địa phương và hoàn vũ không. Sự gặp gỡ và hiệp thông giữa các đặc sủng và ơn gọi khác nhau là con đường hy vọng, vì không ai xây dựng tương lai cách biệt lập hoặc chỉ với sức lực riêng, nhưng cần biết mở rộng đến gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe, giúp đỡ lẫn nhau, để phòng ngừa khỏi bệnh tự kỷ.

Thứ ba là chúng ta được mời gọi hợp lực với các ơn gọi khác trong Giáo hội, như các linh mục và giáo dân, để “tăng gia linh đạo hiệp thông trước tiên ở trong nội bội đời sống thánh hiến, rồi đến trong cộng đồng Giáo hội và đi xa hơn nữa” trong thế giới.

4. Ra khỏi chính mình để đi đến những vùng ngoại biên

“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ” (x. Mc 16,15) là những lời cuối cùng Chúa Giêsu nói với các môn đệ ngày xưa và hôm nay vẫn còn nói với mỗi người chúng ta. Cả nhân loại đang chờ đợi chúng ta: những người đã mất hết hy vọng, những gia đình đang gặp khó khăn, những trẻ thơ bị bỏ rơi, các bạn trẻ gặp ngõ cụt trước tương lai, những người già lão bệnh tật bị loại trừ, những người giàu của cải nhưng tâm hồn trống rỗng, những người đang tìm ý nghĩa cuộc đời và khao khát đời sống tâm linh…

Chúng ta đừng khép lại trong chính mình, bị ngột ngạt với những chuyện lẩm cẩm trong nhà, bị giam hãm trong những vấn đề nội bộ. Những vấn đề này sẽ được giải quyết nếu chúng ta đi ra ngoài để giúp người khác giải quyết những vấn đề của họ và loan báo Tin mừng. Chúng ta sẽ tìm thấy sự sống khi ban phát sự sống, tìm thấy hy vọng khi ban phát hy vọng, tìm thấy tình thương khi yêu thương. Người kia chia sẻ: “Chính sự kết hiệp thường xuyên với Chúa Kitô đã mang lại niềm vui cho đời tôi, niềm vui được sống trong cộng đoàn huynh đệ. Điều này giúp tôi đi ra khỏi con người của mình để đến với những người khác”.

Thật ra là đan sĩ Châu Sơn Nho Quan, chúng ta không cần phải đi ra vùng ngoại biên vật lý, cho bằng ra khỏi cảm giác an toàn tĩnh lặng của mình để tiếp đón và phục vụ khách hành hương. ĐTC mong đợi chúng ta đón tiếp người di dân, gần gũi những người nghèo, sáng tạo trong việc huấn giáo, rao giảng Tin mừng và hướng dẫn cầu nguyện. Ngài cũng mong ước chúng ta giản lược các cơ cấu, thích nghi các cơ sở với những nhu cầu mới, sử dụng các ngôi nhà lớn vào những công tác thích ứng hơn với những yêu sách hiện tại của việc loan báo Tin mừng và bác ái. 

Ai đặt Thiên Chúa vào trọng tâm cuộc sống của mình thì không tự cho mình là trọng tâm! Càng kết hợp với Chúa Giêsu và càng để cho Ngài trở nên trọng tâm đời sống của mình, thì Chúa càng làm cho mình đi ra khỏi chính mình, không tự xem mình là trọng tâm và mở lòng mình ra với người khác. Chúng ta không ở trọng tâm, mà phải được “di chuyển” ra ngoài để phục vụ Chúa Kitô và Giáo hội. Trong Tông huấn Evangelii Gaudium, ĐTC Phanxicô muốn Giáo hội có khả năng biến đổi nhiệt tâm cho một giai đoạn mới của việc Phúc âm hoá đầy hăng say, vui tươi, quảng đại, dũng cảm, yêu thương vô bờ và có sức thu hút.

Chúng ta đọc thấy chứng từ đầy cảm kích của việc đi ra vùng ngoại biên của ĐTC là ông Raul Castro, Chủ Tịch Cuba, đã nói trong cuộc họp báo với Thủ Tướng Ý, sau cuộc gặp ĐTC Phanxicô tại Vatican: “Tôi đã bị đánh động bởi sự khiêm tốn và minh triết của Đức Giáo Hoàng. Tôi đọc tất cả các diễn văn của ngài. Nếu Giáo Hoàng tiếp tục tiến trình này, tôi sẽ trở lại Giáo hội công giáo và tôi sẽ bắt đầu cầu nguyện lại.” Ông nói:  “Tôi không nói đùa. Tôi xuất thân từ đảng Cộng sản Cuba, là đảng không cho phép các đảng viên theo Đạo, nhưng bây giờ chúng tôi đã bỏ cấm đoán này, đó là một bước quan trọng”.

ĐTC đã nói với 7000 thành viên Phong trào Cursillo Châu Âu: “Tôi khuyến khích các anh chị hãy “luôn đi xa hơn” trung thành với đoàn sủng của mình! Hãy giữ cho lòng nhiệt thành, ngọn lửa của Chúa Thánh Linh luôn thúc đẩy các tín hữu Chúa Kitô tìm đến những người ở xa, “ra khỏi cuộc sống tiện nghi thoải mái của mình và có can đảm đi tới mọi khu ngoại ô đang cần đến ánh sáng Tin Mừng”.Chính vì thế, trong Tweetter ngày 16/5/2015 Ngài viết: “Một Giáo hội dù mang thương tích nhưng đi ra các nẻo đường thì hơn là một Giáo hội lâm bệnh vì khép kín”.

Trong cuộc tiếp kiến ngày 5/6/2015 dành cho đại hội thường niên của các Hội Giáo hoàng Truyền Giáo, ĐTC dạy phải “mở ra đến những chân trời rộng lớn và phổ quát của nhân loại, những ranh giới địa lý và nhất là ranh giới về nhân văn, vì loan báo Tin Mừng là mối quan tâm đầu tiên và thường xuyên của Giáo hội, là nhiệm vụ chính yếu của Giáo hội, là thách đố lớn nhất cho Giáo hội, và nguồn mạch đổi mới Giáo hội… Nếu không có thao thức và ưu tư truyền giáo thì không thể biểu lộ được sứ vụ mục vụ đáng tin cậy và hiệu quả khi vừa loan báo Tin Mừng vừa thăng tiến con người. Nhưng trong tất cả các kế hoạch và chương trình, xin đừng gạt bỏ Chúa Giêsu Kitô ra khỏi công việc truyền giáo, vì đó là công trình của Ngài. Và không thể có loan báo Tin Mừng đích thực nếu không có sức mạnh thánh hóa của Chúa Thánh Thần, là Đấng đổi mới, ban sinh lực và thúc đẩy Giáo hội can đảm đi ra để loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc”.

5. Tự vấn về điều Thiên Chúa và nhân loại đang đòi hỏi

ĐTC mong đợi chúng ta tự vấn về điều mà Thiên Chúa và nhân loại đang đòi hỏi. Ngài muốn các đan sĩ chúng ta và những nhóm có khuynh hướng chiêm niệm gặp gỡ và liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm về đời cầu nguyện, về cách thức tăng trưởng hiệp thông với toàn thể Giáo hội, về cách thức nâng đỡ các Kitô hữu bị bách hại, về cách thức đón tiếp và đồng hành những ai đang tìm kiếm một đời sống thiêng liêng sâu xa hơn hoặc đang cần sự nâng đỡ tinh thần hay vật chất. Trong lãnh vực quan trọng này, ĐTC phân biệt rõ ràng: “Việc linh hướng không phải là một đoàn sủng riêng của các linh mục. Đó cũng là đoàn sủng của những người không có thánh chức! Trong đời đan tu sơ khai, những người không có thánh chức là những nhà đại linh hướng… Cần phải tìm kiếm các linh hướng và khi các bề trên thấy một người nam hoặc nữ, trong dòng hoặc trong tỉnh dòng có đoàn sủng làm linh hướng, thì hãy giúp huấn luyện họ để thi hành công tác phục vụ không dễ dàng ấy… Làm linh hướng mà một chuyện, làm cha giải tội là một chuyện khác”.

Đối với các dòng tu chuyên lo việc bác ái, giáo dục, văn hóa, những dòng dấn thân vào việc loan báo Tin Mừng hay những tác vụ mục vụ chuyên biệt, những tu hội đời đang hoạt động bằng sự hiện diện trong các cơ cấu xã hội cũng có thể làm như vậy. Chúa Thánh Linh đã sản sinh những lối sống và những công cuộc đa dạng không thể nào kể ra từng hình thái đặc sủng, phân loại và sắp xếp vào những khung đúc sẵn. Tuy vậy, đừng ai tránh né việc kiểm tra nghiêm túc về sự hiện diện của mình trong Giáo hội, về cách thức đáp ứng những yêu cầu liên tục và mới mẻ đang vang lên chung quanh chúng ta, đáp ứng với tiếng kêu của người nghèo. 

Chỉ khi nào chúng ta quan tâm đến những nhu cầu của thế giới và ngoan ngoãn với Thánh Linh, thì Năm Đời Sống Thánh Hiến mới thực sự là thời điểm dồi dào ân lộc của Thiên Chúa giúp chúng ta biến đổi nên người môn đệ đích thực của Chúa và nên người anh em cho mọi người.

 

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy, PSS

Chia sẻ Bài này:

Related posts

Leave a Comment