Tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từ trần đến với tôi không bất ngờ lắm vì tôi đã theo dõi cơn trọng bệnh của ngài nhiều ngày trước nhưng vẫn gây cho tôi một nỗi buồn và thương tiếc vô hạn. Và tôi nghĩ rằng đó cũng là tâm tình chung của mọi người công giáo Việt Nam vì họ rất một mến vị Đại Diện của Chúa Kitô. Vì mộ mến ngài, tôi muốn được đọc, được nghe, được nhìn những gì có liên quan tới ngài, nhất là những gì đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ ở Roma sau cái chết của ngài, nhưng rất tiếc là các phương tiện truyền thông của Việt Nam, tuy có quan tâm đặc biệt hơn so với những sự kiện tôn giáo quốc tế khác xưa nay, nhưng đối với sự chờ đợi của giới
Công giáo chúng tôi thì vẫn còn quá sơ lược, nghèo nàn.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã từ trần. Một vĩ nhân đã ra đi. Một vị Giáo Hoàng xuất chúng vừa rời bỏ chúng ta. Những ngày này, người ta không ngừng nhận định, đánh giá cuộc đời, con người và sự nghiệp của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trên các phương tiện truyền
thông xã hội cũng như trong các nghi lễ cầu nguyện và tưởng nhớ được tổ chức khắp nơi trong và ngoài Giáo Hội công giáo. Hầu như cả nhân loại cùng đồng tình trong một lòng kính trọng, ngưỡng mộ và biết ơn chân thành đối với ngài. Người ta dành cho ngài những danh hiệu cao quí nhất: "Vị lãnh đạo tinh thần lớn lao nhất" (Đức Đạt Lai Lạt Ma), "Trạng sư không mệt mỏi của hoà bình" (Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan), "Một vị Giáo Hoàng ngoại hạng" (Tổng Thống Pháp Jacques Chirac), "Tông đồ của hoà bình" (Thủ tướng Canada Paul Martin), "Chứng nhân quả cảm của Tin Mừng, Vĩ nhân của lịch sử thế giới và mãi mãi là Gương mẫu không phải chỉ cho người công giáo" (Hồng Y Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức), "Ngọn đèn hải đăng trong cơn bão xoáy và đã không ngừng tranh đấu cho cho nhân quyền và nhân phẩm" (Hồng Y Adrianus Simonis, chủ tịch
Hội Đồng Giám Mục Hà Lan), v. v. Đến như Mehmet Ali Agca, kẻ đã mưu sát Đức Thánh Cha năm 1981 tại Roma, cũng gọi ngài là "Người anh tinh thần"của mình.
Mỗi người nhìn và ca tụng Đức Gioan Phaolô theo quan điểm, tình cảm và cả vai trò hay chức vụ của mình. Riêng tôi, trong tư cách một người con của Giáo Hội và một tu sĩ, tôi thường nhìn ngài như một nhà ngôn sứ, --người công giáo Việt Nam quen dùng tiếng "tiên tri"--, và tôi mong ước cho tiếng nói của ngài sẽ còn âm vang lâu dài vì lợi ích của con người. Ngôn sứ là người nói Lời của Thiên Chúa cách trung thành, không thoả hiệp, không khoan nhượng và đấu tranh quyết liệt cho quyền lợi của Chúa, và chính vì thế mà đấu tranh cho quyền lợi đích thực của con người.
Ngài đã có những hành động mang tính khai phá và những lời nói mạnh mẽ trong nhiều lãnh vực. Vì hoà giải, vì tình thương, sự thật và công lý, ngài không ngại phá vở những thông lệ và điều cấm kị (tabous). Sáng kiến cầu nguyện cho hoà bình cùng với đại diện của các tôn giáo lớn tại Assisi ngày 27/10/1986 là một sáng kiến hết sức táo bạo và bất ngờ. Việc ngài công khai nhìn nhận và xin lỗi về những lỗi lầm của con cái Giáo Hội trong lịch sử, không những gây kinh ngạc mà con làm khó chịu không ít người trong Giáo Hội. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đến viếng Đại Hội Đường Do Thái tại Roma; cũng vậy, năm 2001 khi đến thăm Syrie, ngài đã vào một nhà thờ (mosquée) Hồi Giáo, điều chưa từng xảy ra. Ngài cũng đã phục hồi danh dự cho nhà bác học Galilê và đã đưa ra những nhận định mới, khách quan và thân thiện hơn đối với thuyết của Darwin, khi cho rằng "đó còn là cái gì hơn một giả thuyết". Ngài đã tha thứ cho Agca kẻ đã bắn ngài bị trọng thươngnăm 1981, đã đến thăm anh ta trong tù và từ chối cho người ta mở toà xét xử anh.
Và lịch sử cũng sẽ ghi nhớ ngài như một người hoạt động không mệt mỏi cho hoà bình, hợp tác và liên đới giữa các dân tộc và sắc tộc. Trong các cuộc chiến tranh vùng Vịnh, rồi Afghanistan và Iraq cũng như các cuộc xung đột hay tranh chấp khác, ngài luôn luôn phản đối giải pháp vũ lực. Vì quan điểm của ngài là quan điểm đạo lý chứ không phải chính trị, nên ngài tỏ ra rất "tự do" trước các phe phái, các cường quốc và các ý thức hệ. Khi đến Cuba tháng 1 năm 1988 ngài tuyên bố tại phi trường La Habana:"Tôi đến như người hành hương của tình thương, của sự thật và hy vọng". Vì đạo lý, ngài thường quan tâm tới lợi ích của dân chúng hơn là lập trường các chính phủ. Trong bầu khí sôi sục hận thù và ý muốn trả thù sau cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, ngài đã phát biểu trong sứ điệp Ngày Hoà Bình Thế Giới 2002: "Không có hoà bình nếu thiếu công lý, cũng chẳng có công lý nếu không có sự tha thứ".
Và cũng vì quan điểm đạo lý và Phúc Âm mà Đức cố Giáo Hoàng đã nhất quán bảo vệ sự sống, chống lại "nền văn minh sự chết". Ở đây thì ngài gần như đơn độc và bị phê phán, bị chống đối quyết liệt nhất. Người ta coi lập trường của ngài trong các vấn đề hôn nhân và gia đình, phá thai, ngừa thai, chết êm dịu, "nhân bản người" dù là vì mục đích chữa bệnh v. v. là không "nhân bản", cổ hủ và phản động. Thế mà chính ngài lại xác tín rằng chọn lựa của ngài, của Giáo Hội công giáo mới là nhân bản đích thực. Ở đây xem ra khó có sự "hoà giải' được bởi vì nền văn minh hiện đại đã loại trừ Thiên Chúa, chủ trương con người không còn phải lệ thuộc bất cứ tiêu chuẩn chân lý và đạo đức "khách quan" nào ở trên con người, thay thế các giá trị truyền thống bởi các giá trị "trần tục" và đối chọi chủ nghĩa nhân bản duy trần tục với tôn giáo. Trong lãnh vực này, tôi cho rằng tiếng nói của Đức cố Giáo Hoàng mang âm vang "tiên tri" rõ ràng nhất! Nó giống như tiếng nói của các ngôn sứ trong Cựu Ước, hay của Gioan Tẩy Giả và của chính Chúa Kitô. "Anh em không được làm như thế dù với lý do phục vụ con người!"
Bởi đâu mà ngài tỏ ra "cứng cỏi" và chấp nhận "đơn thân độc mã" như thế? Tôi nhớ lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha trên quảng trường Thánh Phê-rô ngày 22 tháng 10 năm 1978 lúc mới lên ngôi:"Đừng sợ!" Lời kêu gọi đó có vẻ như là một lời hiệu triệu, một lời khiêu chiến với ai đó. Nhưng đừng quên câu sau:"Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô!" Vậy nói cho cùng, đừng sợ là đừng sợ Đức Kitô! Cùng với công đồng Vatican II, ngài xác tín mạnh mẽ rằng Đức Kitô là "kho tàng" của Giáo Hội, là "con đường" của Giáo Hội, là "Đấng Cứu Độ loài người", là chìa khoá "giải mã" con người. Trong chuyến thăm quê hương Ba Lan lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1979, ngài dõng dạc khẳng định: "Đối với Ba Lan, Giáo Hội đã đem Chúa Kitô đến như chiếc chìa khoá để hiểu được thực tại lớn lao và căn bản là con người ... Không thể loại bỏ Chúa Kitô ra khỏi lịch sử nhân loại bất kỳ nơi đâu trên trái đất này, tại bất cứ kinh tuyến hay vĩ tuyến nào của hành tinh. Loại trừ Chúa Kitô ra khỏi lịch sử nhân loại là một tội ác chống lại loài người".
Đối với chúng ta ngày nay, câu nói đó có lẽ cũng là chìa khoá giúp ta hiểu rõ hơn các chọn lựa, hành động và giáo huấn của con người vĩ đại này là Gioan Phao-lô II. Nó giải thích được nhiều điều. Thiếu cái chìa khoá ấy hay không chấp nhận nó, người ta sẽ mãi mãi cho ngài là con người đầy những mâu thuẩn. Bây giờ sau khi ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, đọc lại thông điệp Đấng Cứu chuộc con người là thông điệp đầu tiên của ngài, tôi mới nhận ra tầm mức và ý nghĩa thực tế của hai khẳng định mang tính "chương trình" trong đó: "Đức Kitô là con đường chính yếu của Hội Thánh" (số 13) và "Con người là con đường của Hội Thánh" (số 14).